Translate

Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2013

BẢN TIN MỤC VỤ CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN C (27/1/2013)


BẢN TIN MỤC VỤ
CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN C (27/1/2013)
SAINT JOSEPH CATHOLIC CHURCH – NHÀ THỜ THÁNH GIUSE
1375 S. MICKLEY AVENUE, INDIANAPOLIS, IN 46241 – PHONE: 317-244-9002 - FAX: 244-0278
Điện thoại dành riêng cho VN: 813-451-4743; Email: mduongindy@yahoo.com
GHI DANH VÀO GIÁO XỨ
Theo quy định của Giáo phận, người công giáo cần ghi danh gia nhập Giáo xứ nơi thường trú và tham dự Phụng Vụ để tiện việc nhận các Bí tích và các chương trình giáo dục Công giáo. Xin ghi danh càng sớm càng tốt.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 
Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA
THÁNG 1 NĂM 2013
 
-       Ý chung: Cầu cho các Kitô hữu biết đào sâu năm đức tin này sự hiểu biết về mầu nhiệm Đức Kitô và hân hoan làm chứng cho Ngài vì hồng ân đức tin. 
-       Ý truyền giáo: Cầu cho cộng đoàn Kitô hữu thường bị phân biệt đối xử tại Trung Đông nhận được nơi Chúa Thánh Thần sức mạnh của niềm tin và sự kiên tâm bền chí.
QUAN THẦY CỘNG ĐOÀN

 
VĂN PHÒNG GIÁO XỨ
 
-       Chánh xứ: Rev. Robert T. Hausladen
-       Quản nhiệm: Rev. Giuse Dương Quang Minh
 
BAN ĐẠI DIỆN
 
-       Chủ tịch: Eric Hoàng (317-850-2988)
-       Nội vụ: Hùng Nguyễn (317-874-6216)
-       Ngoại vụ: Lãm Nguyễn (317-503-2129)
-       Thư ký: Thọ Lê (317-219-9562)
 
CÁC ỦY BAN
 
1.      BAN PHỤNG VỤ
 
-       Doanh Vũ (317-219-5470)
-       Tâm Đỗ (951-801-0485)
 
2.      BAN GIÁO LÝ
 
-       Nam Nguyễn (682-551-8072)
-       Sr. Anna Nhung Ho (909-576-1868)
 
3.      BAN TÀI CHÁNH
 
-       Việt Anh Nguyễn (317-926-1446)
-       Hương Chu
 
4.      BAN BÁC ÁI XÃ HỘI
 
-       Nga Ngô (317-298-8150)
 
5.      BAN ẨM THỰC
 
-       Diễm Hoàng (720-236-3136)
-       Thoa Đinh
 
6.      BAN THÁNH NHẠC/VĂN NGHỆ
 
-       Thông Đức Nguyễn (317-702-2126)
-       Vinh Nguyễn (317-414-4429)
 
7.      BAN KHÁNH TIẾT
-       Quỳnh Lê (626-560-3146)
CHƯƠNG TRÌNH MỤC VỤ THƯỜNG NIÊN
V˜
 
1.      THÁNH LỄ TIẾNG VIỆT NGÀY CHÚA NHẬT: 1:00 Pm và 6:00 Pm
2.      THÁNH LỄ NGÀY THƯỜNG: 5:45 Pm.
(Lễ tiếng Anh)
3.      GIẢI TỘI: 12:30 Pm. (trước giờ thánh lễ mỗi Chúa nhật). Các ngày khác, xin liên lạc sắp xếp thời giờ.
4.      GIÁO LÝ HÔN NHÂN: Mỗi tháng 2 lần vào Chúa nhật.
5.      RỬA TỘI TRẺ EM: 1:00 Pm. Trong thánh lễ Chúa nhật thứ II và III mỗi tháng.
RỬA TỘI NGƯỜI LỚN: Trong lễ Vọng Phục Sinh hoặc trong thánh lễ Chúa nhật.
6.      HÔN PHỐI & DỰ TÒNG: Cần gặp Cha Quản nhiệm ít nhất 6 tháng trước ngày cưới, và không bị mắc ngăn trở.
7.      TANG LỄ: Những ai thuộc giáo dân nhà thờ Thánh Giuse, gọi Cha Quản nhiệm hoặc Chủ tịch cộng đoàn để xếp chương trình tang lễ và thông báo cho cộng đoàn.
8.      XỨC DẦU THÁNH: Cần linh mục cho bệnh nhân, gọi bất cứ giờ nào (813-451-4743)
9.      ĐEM MÌNH THÁNH CHÚA CHO NGƯỜI ĐAU YẾU: Vào sáng thứ Năm hàng tuần.
 
LỊCH PHỤNG VỤ TRONG TUẦN
V˜
 
 
 
NHỮNG NGƯỜI XIN LỄ TRONG TUẦN
 
-       Cầu cho linh hồn Giuse vừa qua đời.
 
 
CHƯƠNG TRÌNH TẾT NGUYÊN ĐÁN
(Ngày 10/2/2013)
 
-       1:00 PM – 1:20 PM: Chầu Tạ Ơn Cuối Năm
-       1:30 PM – 2:30 PM: Thánh Lễ Tân Niên, Hái Lộc Lời Chúa
-       3:00 PM – 6:00 PM: Văn Nghệ và Tiệc Mừng
 
 
 
BÁO CÁO TÀI CHÍNH HẰNG TUẦN
-       Tiền xin giỏ trong nhà thờ Chúa Nhật II Thường Niên C (ngày 20/1/13): $ 475.00
 
ĐỌC SÁCH THÁNH VÀ LỜI NGUYỆN
LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA (13/1/2013)
Đọc sách thánh
-       Bài đọc I: Minh Nguyễn
-       Bài đọc II: Thoa Nguyễn
Lời nguyện: Nguyễn Hùng
CHÚA NHẬT II TN C (20/1/2013)
Đọc sách thánh
-       Bài đọc I: Martin Nguyễn Trần Duy Linh
-       Bài đọc II: Maria Phan Ngọc Hạnh
Lời nguyện: Anna Nguyễn Lê Ngọc Nga
CHÚA NHẬT III TN C (27/1/2013)
Đọc sách thánh
-       Bài đọc I: Phanxicô Nguyễn Đình Ngôn
-       Bài đọc II: Anna Nguyễn Lê Ngọc Ngân
Lời nguyện: Macta Ngô Thị Nga
CHÚA NHẬT IV TN C (3/2/2013): Các Em Lớp Giáo Lý đảm trách.
CHÚA NHẬT V TN C (10/2/2013)
Đọc sách thánh
-       Bài đọc I: Antôn Nguyễn Thành Thông
-       Bài đọc II: Giuse Nguyễn Quốc Hùng
Lời nguyện: Maria Phan Ngọc Hạnh

Bài Giáo Lý của ĐTC Bênêđictô XVI về Năm Đức Tin: Đức Tin của Ông Abraham

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ 1/23/2013

 

Dưới đây là bản dịch Bài Giáo Lý thứ mười bốn của ĐTC Bênêđictô XVI về Năm Đức Tin, được ban hành tại Sảnh Đường Phaolô VI hôm thứ tư ngày 23 tháng 1, 2013. Hôm nay ĐTC bắt đầu những bài Giáo Lý về Kinh Tin Kính trong loạt Bài Giáo Lý về Đức Tin. 

 

Trong Năm Đức Tin này, hôm nay tôi muốn cùng anh chị em bắt đầu suy niệm về Kinh Tin Kính, là lời tuyên xưng đức tin long trọng đồng hành với cuộc sống chúng ta như các tín hữu. Kinh Tin Kính mở đầu bằng câu “Tôi tin kính một Thiên Chúa.” Đó là một lời khẳng định cơ bản, có vẻ đơn giản trong bản chất, nhưng mở ra cho thế giới vô hạn của mối liên hệ với Thiên Chúa và mầu nhiệm của Ngài. Tin vào Thiên Chúa ngụ ý gắn bó với Ngài, đón nhận Lời Ngài và vui vẻ tuân theo mặc khải của Ngài. Như Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo viết, “Đức tin là một hành vi cá nhân, là sự đáp trả tự nguyện của con người đối với sáng kiến của Thiên Chúa là Đấng đã mạc khải chính mình” (số 166). Cho nên, việc có khả năng nói lên rằng mình tin vào Thiên Chúa vừa là một hồng ân của Thiên Chúa - Thiên Chúa tự tỏ mình ra và đến gặp chúng ta - vừa là một cam kết, đó là ân sủng của Thiên Chúa và trách nhiệm của con người, trong một kinh nghiệm về cuộc đối thoại với Thiên Chúa, vì yêu thương, “nói với con người như bằng hữu” (Dei Verbum, 2); do đó Ngài nói với chúng ta trong đức tin và với đức tin, chúng ta có thể bước vào sự hiệp thông với Ngài.


Chúng ta có thể lắng nghe Thiên Chúa và Lời Ngài ở đâu? Nơi cơ bản là Thánh Kinh, trong đó Lời Chúa có thể được chúng ta nghe thấy rõ ràng và nuôi dưỡng đời sống của chúng ta như “bạn hữu” của Thiên Chúa. Toàn thể Thánh Kinh kể lại mặc khải của Thiên Chúa cho nhân loại; toàn thể Thánh Kinh nói về đức tin và dạy chúng ta về đức tin bằng cách kể lại một câu chuyện mà trong đó Thiên Chúa thực hiện kế hoạch cứu độ của Ngài và đến gần chúng ta là con người, qua nhiều nhân vật sáng ngời của dân tin vào Ngài và tín thác nơi Ngài, cho đến sự viên mãn của mặc khải nơi Chúa Giêsu.
 


Một đoạn rất hay liên quan đến chủ đề này là chương 11 của Thư gửi tín hữu Do Thái, mà chúng ta vừa nghe. Ở đây thư này nói về đức tin và đưa ra ánh sáng những nhân vật vĩ đại trong Thánh Kinh, là những người đã sống và đã trở thành một mẫu gương cho tất cả các tín hữu. Bản văn nói ở câu đầu tiên: “Đức tin là bảo đảm những điều chúng ta hy vọng và bằng chứng cho những điều ta không thấy” (11:1). Như thế cặp mắt đức tin có thể nhìn thấy những gì vô hình và con tim của người tín hữu có thể hy vọng vượt trên mọi hy vọng, cũng như ông Abraham mà Thánh Phaolô nói trong Thư Rôma rằng “ Ông đã tin tưởng trong hy vọng, dù không còn hy vọng” (4:18).


Và tôi muốn tập trung sự chú ý của chúng ta vào chính ông Abraham, bởi vì ông là nhân vật tham chiếu quan trọng đầu tiên để nói về đức tin vào Thiên Chúa: Ông Abraham, Tổ Phụ vĩ đại, mẫu gương tuyệt vời, cha của tất cả các tín hữu (x. Rm 4:11 -12). Thư gửi tín hữu Do Thái trình bày về ông như sau: “Nhờ đức tin, ông Abraham, khi được Thiên Chúa gọi, đã vâng lời ra đi đến một nơi mà sau đó ông sẽ được nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu. Nhờ đức tin, ông đã trẩy đến cư ngụ nơi đất hứa, như một nơi đất khách, ông sống trong lều cùng ông Isaac và ông Giacob, là những người đồng thừa tự với ông cùng một lời hứa, vì ông trông đợi một thành phố có nền móng, mà người xây cất và sáng tạo là Thiên Chúa.” (11,8-10).
 


Ở đây tác giả Thư Do Thái đề cập đến ơn gọi của ông Abraham, được kể trong Sách Sáng Thế Ký, quyển sách đầu tiên của Thánh Kinh. Thiên Chúa đòi hỏi vị tổ phụ vĩ đại này điều gì? Ngài đòi ông phải rời bỏ quê hương ông và đi đến một xứ mà Ngài sẽ chỉ cho ông, “Ngươi hãy rời bỏ quê hương, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đến xứ Ta sẽ chỉ cho ngươi.” (St 12:1). Làm sao chúng ta có thể đáp lại một lời mời gọi như thế? Thực ra, đó là một cuộc khởi hành trong bóng tối, không biết là Thiên Chúa sẽ dẫn ông đi đâu; đó là một cuộc hành trình đòi phải có sự vâng phục và tin tưởng tuyệt đối, là điều chỉ có thể đạt được nhờ đức tin. Tuy nhiên bóng tối của nơi chưa biết - nơi ông Abraham phải đi - được chiếu soi bởi ánh sáng của một lời hứa; Thiên Chúa thêm một lời trấn an vào lệnh của Ngài rằng sẽ mở ra trước mặt ông Abraham một đời sống tương lai trong sự sung mãn của nó: “Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân tộc lớn và Ta sẽ chúc phúc cho ngươi, và làm cho danh ngươi vang lừng,… các dân tộc trên thế gian sẽ nhờ ngươi mà được chúc phúc” (Gen 12,2.3).


Lời chúc lành, trong Thánh Kinh, chủ yếu liên quan đến hồng ân sự sống là điều đến từ Thiên Chúa, và được tỏ lộ chính yếu trong khả năng sinh sản, trong một cuộc sống mà con cái đông đúc, lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Và lời chúc lành cũng được nối kết với kinh nghiệm làm chủ một vùng đất, một nơi yên ổn để sinh sống và phát triển trong tự do và an ninh, trong sự kính sợ Thiên Chúa và xây dựng một xã hội của những người trung thành với Giao Ước, “một vương quốc tư tế và một dân tộc thánh thiện” (x. Xh 19:6).


Vì vậy trong kế hoạch của Thiên Chúa, ông Abraham được tiền định để trở thành “cha của nhiều dân tộc” (St 17:5; xem Rm 4:17-18) và đi vào một vùng đất mới để sinh sống. Nhưng bà Sara, vợ ông, lại hiếm muộn, không thể có con; và xứ sở mà Thiên Chúa dẫn ông đến thì xa sinh quán của ông, đã có các dân khác cư ngụ, và đã không bao giờ thực sự thuộc quyền sở hữu của ông. Câu chuyện trong Thánh Kinh nhấn mạnh điều này, mặc dù rất dè dặt: Khi Ông Abraham đến nơi Thiên Chúa hứa: “lúc ấy dân Canaan đang cư ngụ trong xứ” (St 12:6). Đất mà Thiên Chúa ban cho ông Abraham không thuộc về ông, ông là một người khách lạ và sẽ luôn luôn như thế, với tất cả những gì điều này đưa đến: không có ý định sở hữu, luôn luôn cảm thấy sự đói nghèo của mình, coi tất cả như một hồng ân. Đây cũng là tình trạng tinh thần của những người bằng lòng đi theo Chúa, những người quyết định ra đi khi đón nhận ơn gọi của mình, theo dấu chỉ của lời chúc lành vô hình nhưng mãnh liệt của Ngài. Và ông Abraham, “cha của các tín hữu,” chấp nhận lời mời gọi này trong đức tin. Thánh Phaolô viết trong Thư gửi tín hữu Rôma: “Dù không còn hy vọng, ông đã tin tưởng trong hy vọng rằng ông phải trở thành tổ phụ của nhiều dân tộc, như lời Thiên Chúa phán, ‘Dòng dõi ngươi sẽ như thế.’ Ông đã không yếu tin; ông cũng không bận tâm đến việc thân xác ông hay lòng bà Sara bấy giờ như là đã chết, vì ông đã gần một trăm tuổi. Ông đã không nghi ngờ lời hứa của Thiên Chúa vì cứng tin; nhưng ông đã thêm vững mạnh trong đức tin mà tôn vinh Thiên Chúa, vì ông hoàn toàn xác tín rằng, điều gì Thiên Chúa đã hứa, thì Ngài đều có thể hoàn thành. “(Rm 4:18-21).


Đức tin dẫn ông Abraham đi theo một con đường nghịch lý. Ông sẽ được chúc phúc, nhưng không có những dấu chỉ hữu hình của lời chúc phúc; ông lãnh nhận lời hứa trở thành một dân lớn, nhưng với một đời sống đánh dấu bởi sự hiếm muộn của vợ ông là bà Sara; ông được đưa đến một quê hương mới nhưng sẽ phải sống ở đó như một ngoại kiều, và mảnh đất duy nhất ông được phép sở hữu sẽ chỉ là một mảnh đất để chôn cất bà Sara (x. St 23:1-20). Ông Abraham đã được chúc phúc bởi vì, trong đức tin, ông biết phân biệt lời chúc lành của Thiên Chúa bằng cách vượt xa những gì bề ngoài, tín thác vào sự hiện diện của Thiên Chúa ngay cả khi những đường lối của Ngài có vẻ bí nhiệm đối với ông.


Điều này có ý nghĩa gì đối với chúng ta? Khi chúng ta xác quyết “Tôi tin kính một Thiên Chúa,” chúng ta nói như ông Abraham, “Lạy Chúa, con tin tưởng Chúa, con tín thác vào Chúa”, nhưng không phải như một Đấng mà chúng ta chỉ kêu cầu trong những lúc khó khăn hoặc Đấng mà cho Ngài chúng ta chỉ dành một ít thì giờ nào đó trong ngày hoặc trong tuần. Nói rằng “Tôi tin kính một Thiên Chúa” có nghĩa là cuộc sống của tôi được tìm thấy trong Ngài, để cho Lời Ngài định hướng mỗi ngày, trong các lựa chọn cụ thể, mà không sợ mất mát một điều gì đó của chính mình. Trong Nghi Thức Rửa Tội, khi nhắc nhở 3 lần: “Con có tin không?” vào Thiên Chúa, vào Đức Chúa Giêsu Kitô, vào Chúa Thánh Thần, vào Hội Thánh Công Giáo Thánh Thiện và các chân lý khác của đức tin, câu trả lời ba lần ở số ít là: “Tôi tin,” bởi chính đời sống cá nhân của tôi phải đi qua một lối rẽ với hồng ân đức tin, chính cuộc sống của tôi phải thay đổi, phải hoán cải. Mỗi lần chúng ta tham dự Bí Tích Rửa Tội, chúng ta nên tự hỏi mình xem chúng ta sống hồng ân đức tin cao trọng mỗi ngày như thế nào.


Ông Abraham, người có đức tin, dạy chúng ta đức tin; và như một ngoại kiều trên thế gian, ông chỉ cho chúng ta quê hương thật. Đức tin biến chúng ta thành những khác lữ hành trên trần gian, được đặt trong thế giới và trong lịch sử của nó, nhưng trên đường về quê hương trên trời. Như vậy, tin vào Thiên Chúa biến chúng ta thành những người mang những giá trị thường không trùng hợp với những gì hợp thời trang hay những quan điểm của thời đại; nó đòi hỏi chúng ta chấp nhận những tiêu chuẩn và có những hành vi không thuộc về cách suy nghĩ chung của của quần chúng.
 


Người Kitô hữu không nên sợ đi “ngược dòng” để sống đức tin của mình, chống lại cám dỗ “thích nghi”. Trong nhiều xã hội, Thiên Chúa đã trở thành “sự vắng mặt lớn” và thay cho Ngài là nhiều ngẫu tượng, trước hết là “cái tôi” tự trị. Cả những tiến bộ đáng kể và tích cực về khoa học và kỹ thuật cũng cho con người một ảo tưởng về sự toàn năng và tự túc của mình, và một chủ nghĩa duy ngã càng ngày càng phát triển đã tạo ra nhiều sự mất cân bằng trong mối tương quan giữa con người và cách cư xử trong xã hội.


Tuy nhiên, lòng khao khát Thiên Chúa (x. Tv 63:2) đã không bị dập tắt và sứ điệp Tin Mừng tiếp tục vang âm qua lời nói và việc làm của nhiều người nam nữ có đức tin. Ông Abraham, cha của các tín hữu, tiếp tục là cha của nhiều con cái sẵn sàng đi theo bước chân của ông và lên đường, với lòng vâng phục ơn gọi của Thiên Chúa, tín thác vào sự hiện diện nhân từ của Chúa và đón nhận phúc lành của ông (Abraham) là điều đã trở thành phúc lành cho tất cả mọi người. Đó là thế giới được chúc lành của đức tin mà chúng ta được mời gọi đến, để đi theo Đức Chúa Giêsu Kitô mà không sợ hãi. Và đôi khi nó là một cuộc hành trình khó khăn, thậm chí phải trải qua cả những thử thách và cái chết, nhưng mở ra cho sự sống, trong một sự biến đổi tận gốc của thực tại mà chỉ có cặp mắt đức tin mới có thể thấy và thưởng thức trong dư đầy.


Như thế, việc xác quyết “Tôi tin kính một Thiên Chúa” thúc đẩy chúng ta ra đi, liên tục ra khỏi chính mình, giống như ông Abraham, để mang vào thực tại hàng ngày mà trong đó chúng ta đang sống sự chắc chắn đến từ đức tin: đó là sự chắc chắn về sự hiện diện của Thiên Chúa trong lịch sử, ngay cả ngày nay; một sự hiện diện đem lại sự sống và ơn cứu độ, và mở ra cho chúng ta một tương lai với Ngài để có một đời sống viên mãn không bao giờ bị suy giảm. Cám ơn anh chị em.

Thứ Ba, 22 tháng 1, 2013

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA (6/1/2013)


BẢN TIN MỤC VỤ
CHÚA NHẬT LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA (6/1/2013)
SAINT JOSEPH CATHOLIC CHURCH – NHÀ THỜ THÁNH GIUSE
1375 SOUTH MICKLEY AVENUE, INDIANAPOLIS, IN 46241 – PHONE: 317-244-9002 - FAX: 244-0278
Điện thoại dành riêng cho VN: 813-451-4743; Email: mduongindy@yahoo.com
GHI DANH VÀO GIÁO XỨ
Theo quy định của Giáo phận, người công giáo cần ghi danh gia nhập Giáo xứ nơi thường trú và tham dự Phụng Vụ để tiện việc nhận các Bí tích và các chương trình giáo dục Công giáo. Xin ghi danh càng sớm càng tốt.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 
Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA
THÁNG 1 NĂM 2013
 
-       Ý chung: Cầu cho các Kitô hữu biết đào sâu năm đức tin này sự hiểu biết về mầu nhiệm Đức Kitô và hân hoan làm chứng cho Ngài vì hồng ân đức tin. 
-       Ý truyền giáo: Cầu cho cộng đoàn Kitô hữu thường bị phân biệt đối xử tại Trung Đông nhận được nơi Chúa Thánh Thần sức mạnh của niềm tin và sự kiên tâm bền chí.
QUAN THẦY CỘNG ĐOÀN

 
VĂN PHÒNG GIÁO XỨ
 
-       Chánh xứ: Rev. Robert T. Hausladen
-       Quản nhiệm: Rev. Giuse Dương Quang Minh
 
BAN CHẤP HÀNH
 
-       Chủ tịch: Eric Hoàng (317-850-2988)
-       Nội vụ: Hùng Nguyễn (317-874-6216)
-       Ngoại vụ: Lãm Nguyễn (317-503-2129)
-       Thư ký: Thọ Lê (317-219-9562)
 
CÁC ỦY BAN
 
1.      BAN PHỤNG VỤ
 
-       Doanh Vũ (317-219-5470)
-       Tâm Đỗ (951-801-0485)
 
2.      BAN GIÁO LÝ
 
-       Nam Nguyễn (682-551-8072)
-       Sr. Anna Nhung Ho (909-576-1868)
 
3.      BAN TÀI CHÁNH
 
-       Việt Anh Nguyễn (317-926-1446)
-       Hương Chu
 
4.      BAN BÁC ÁI XÃ HỘI
 
-       Nga Ngô (317-298-8150)
 
5.      BAN ẨM THỰC
 
-       Diễm Hoàng (720-236-3136)
-       Thoa Đinh
 
6.      BAN THÁNH NHẠC/VĂN NGHỆ
 
-       Thông Đức Nguyễn (317-702-2126)
-       Vinh Nguyễn (317-414-4429)
 
7.      BAN KHÁNH TIẾT
-       Quỳnh Lê (626-560-3146)
CHƯƠNG TRÌNH MỤC VỤ THƯỜNG NIÊN
V˜
 
1.      THÁNH LỄ TIẾNG VIỆT NGÀY CHÚA NHẬT: 1:00 Pm và 6:00 Pm
2.      THÁNH LỄ NGÀY THƯỜNG: 5:45 Pm.
(Lễ tiếng Anh)
3.      GIẢI TỘI: 12:30 Pm. (trước giờ thánh lễ mỗi Chúa nhật). Các ngày khác, xin liên lạc sắp xếp thời giờ.
4.      GIÁO LÝ HÔN NHÂN: Mỗi tháng 2 lần vào Chúa nhật.
5.      RỬA TỘI TRẺ EM: 1:00 Pm. Trong thánh lễ Chúa nhật thứ II và III mỗi tháng.
RỬA TỘI NGƯỜI LỚN: Trong lễ Vọng Phục Sinh hoặc trong thánh lễ Chúa nhật.
6.      HÔN PHỐI & DỰ TÒNG: Cần gặp Cha Quản nhiệm ít nhất 6 tháng trước ngày cưới, và không bị mắc ngăn trở.
7.      TANG LỄ: Những ai thuộc giáo dân nhà thờ Thánh Giuse, gọi Cha Quản nhiệm hoặc Chủ tịch cộng đoàn để xếp chương trình tang lễ và thông báo cho cộng đoàn.
8.      XỨC DẦU THÁNH: Cần linh mục cho bệnh nhân, gọi bất cứ giờ nào (813-451-4743)
9.      ĐEM MÌNH THÁNH CHÚA CHO NGƯỜI ĐAU YẾU: Vào sáng thứ Năm hàng tuần.
 
LỊCH PHỤNG VỤ TRONG TUẦN
V˜
 
 
 
NHỮNG NGƯỜI XIN LỄ TRONG TUẦN
 
-       Gia đình Chị Yến xin cầu cho các linh hồn Giuse, Maria và Phêrô.
-       Một người xin tạ ơn.
 
 
 
 
 
BÁO CÁO TÀI CHÍNH HẰNG TUẦN
-       Tiền xin giỏ trong nhà thờ Chúa Nhật Lễ Hiển Linh: $ 531.00.
 
ĐỌC SÁCH THÁNH VÀ LỜI NGUYỆN
LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA (13/1/2013)
Đọc sách thánh
-       Bài đọc I: Minh Nguyễn
-       Bài đọc II: Thoa Nguyễn
Lời nguyện: Nguyễn Hùng
CHÚA NHẬT II TN C (20/1/2013)
Đọc sách thánh
-       Bài đọc I: Martin Nguyễn Trần Duy Linh
-       Bài đọc II: Maria Phan Ngọc Hạnh
Lời nguyện: Anna Nguyễn Lê Ngọc Nga
CHÚA NHẬT III TN C (27/1/2013)
Đọc sách thánh
-       Bài đọc I: Phanxicô Nguyễn Đình Ngôn
-       Bài đọc II: Anna Nguyễn Lê Ngọc Ngân
Lời nguyện: Macta Ngô Thị Nga
CHÚA NHẬT IV TN C (3/2/2013): Các Em Lớp Giáo Lý đảm trách.
CHÚA NHẬT V TN C (10/2/2013)
Đọc sách thánh
-       Bài đọc I: Antôn Nguyễn Thành Thông
-       Bài đọc II: Giuse Nguyễn Quốc Hùng
Lời nguyện: Maria Phan Ngọc Hạnh

BIÊN ĐỘ CỦA THÁNH KINH
Pilinszky János 

 Con người là thực thể xã hội. Trong khái niệm tâm huyết hơn: con người là thực thể sinh ra cho tình yêu thương. Vậy mà, để yêu thương cũng khó, nhận lấy lòng yêu thương cũng khó.
Ấn tượng của kẻ “sinh ra cho tình yêu thương” luôn luôn là: một mặt người ta không yêu thương tôi “đủ”, mặt khác người ta không cho phép tôi yêu thương, hoặc yêu thương một cách “thật sự”.
Chúng ta có thể liệt kê hàng loạt những nguyên nhân của kinh nghiệm, của bi kịch tình yêu thương con người, và cho dù ta có thể làm dịu đi nỗi đau chúng mang lại, nhưng mâu thuẫn của bi kịch này vẫn còn nguyên: Con người sinh ra cho lòng yêu thương, nhưng vô ích kiếm tìm sự thực hiện hoàn hảo tình yêu thương trên quả đất.
Tình yêu thương thật sự- như các thi sĩ thánh kinh thường nói- là bộ sưu tập của tất cả các đức hạnh trần tục: sự khiêm nhường, lòng kiên nhẫn, sự hiền dịu, hiến dâng, lòng trung thành và sự anh minh.
Thế nhưng thử thách chân chính của tình yêu thương chân chính lại là, không run sợ trước tình yêu thương của kẻ khác, để ngập tràn lòng nhân từ, sự kiên nhẫn và khiêm nhường đón nhận tình yêu thương .
Đã bao nhiêu lần chúng ta nghe nói đến một tình yêu thương nặng gánh, gây bực bội, không thể chịu đựng nổi. Và đã bao nhiêu lần chúng ta thấy trong tình yêu, cuộc đấu súng của đôi “tình nhân”, cuộc chiến của kẻ săn đuổi và kẻ bị truy rượt, chủ nghĩa man rợ ăn thịt lẫn nhau thực sự của tình yêu thương.
Bởi vậy, trước bi thảm của tình yêu thương của con người Kinh Thánh vẫn là cuốn sách lớn của mọi cuốn sách. Thượng Đế sống trong Lời, là kẻ cho phép người khác yêu thương mình! Đấy là nhận thức tuyệt hảo nhất của tình yêu thương.
Và ai một lần đã đạt đến mức cảm thấy những từ ngữ của Kinh Thánh hoàn toàn quện lấy mình, với kẻ đó bằng chứng sâu sắc thánh thiện nhất là bằng chứng tình yêu thương của Thánh Kinh. Thượng Đế là người mà ta có thể yêu thương được. Không một cơn khát nào bị ngăn cản.
Francois Mauriac đã phân tích một nhân vật trở thành linh mục như sau: “Nếu anh ta yêu một người nào đấy, luôn luôn người ấy là kẻ mà anh ta yêu hơn cả, và những trái tim như thế là những con mồi dễ dàng cho Thượng Đế”.
Thật là một định nghĩa táo tợn, mà bản chất của nó có thể dịch như sau: với những trái tim như vậy chỉ một mình Thượng Đế biết hiến dâng bản thân Ngài cho nó mà thôi! Thậm chí Ngài chỉ ôm vào lòng những kẻ như vậy.
Những kẻ mà bên cạnh tình yêu thương của họ tất cả mọi người đều tháo chạy, những kẻ đó khao khát đợi chờ Thượng Đế nhiều nhất- một cách thầm kín, nhưng gần gũi, vô hình với sự gắn bó diệu kỳ nhất.
Bởi vậy thật an ủi sau một ngày phiền nhiễu mệt mỏi nặng nề, trong tĩnh lặng của màn đêm lật giở từng trang-từng trang Kinh Thánh. Và đây cũng là điều bất tử trong sách Thánh: tình yêu thương, sự tuyệt vời của tình yêu thương siêu việt.
Rất nhiều lần tôi đã trầm ngâm, cuộc gặp gỡ đầu tiên với Chúa Giê su đã mang lại cú sốc như thế nào đối với một người đọc Hy lạp hay Latin?
Bởi vì chúng ta biết một định luật thiêng tàn bạo trong các truyện thần thoại, khi vị thần mới truất ngôi vị thần cũ, Zeus hạ bệ Kronos, như những chiếc lá mới xô đẩy những chiếc lá năm ngoái, như trong các bộ lạc man rợ cậu con trai giết cha. Sự phát triển đòi hỏi nạn nhân, và ngay đến sự ra đời và cái chết của các thần linh cũng phản ánh quy luật thiên nhiên trần trụi này.
Người đọc được nuôi dưỡng từ các thần thoại Hy lạp và Latin chắc chắn sẽ hết sức ngạc nhiên khi đọc về mối quan hệ giữa Cha và Con trong Kinh Thánh, để tự ngẫm với mình bằng trái tim và trí óc kinh ngạc rằng:”
Ôi, đây là một Thượng Đế mới, kẻ ra mắt Cha như một nạn nhân trong sạch. BA NGÔI là chiến thắng của tình yêu thương, đã chặn đứng một dãy dài, một quá trình tiến hóa tội lỗi khủng khiếp. Trong BA NGÔI, thật sự Thượng Đế vĩnh cửu đã đến với chúng ta.”
“Các ngươi đừng sợ hãi, ta đã chiến thắng thế gian”- Chúa Giê su nói, và khi Chúa nói điều này, chúng ta hiểu, người nghĩ đến một tình thương yêu vô bờ bến. Tình yêu thương là thứ không thể trôi qua, là thứ không thể tránh khỏi và vĩnh viễn không bao giờ bị bỏ quên. Tình yêu thương là khái niệm sâu sắc nhất chúng ta tạo dựng về hiện thực.
Ngôn từ của Chúa từ tình yêu thương mới khẽ khàng làm sao, chiến thắng của Người từ tình yêu thương mới êm dịu và kiên nhẫn làm sao. Và vì không có sự sống vĩnh cửu nếu thiếu tình yêu thương, nên chỉ một mình tình yêu thương mới có thể an bài trong vĩnh cửu và toàn diện.
Kinh Thánh là bằng chứng yêu thương vĩ đại duy nhất bên cạnh sự sống Thượng Đế, cũng như bí ẩn của BA NGÔI có thể tiếp cận gần gũi nhất bằng logic của tình yêu thương.
Từ đây có sự hiện đại vĩnh cửu của Kinh Thánh.

Nguồn:Tạp chí”Con người mới”. 1962.06.03 Nguyễn Hồng Nhung dịch từ nguyên bản tiếng Hung


VỊ VUA THỨ TƯ

Hôm lễ Ba Vua. Phúc Am chỉ nhắc đến ba vị vua. Thế nhưng văn sĩ Joergernen người Ðan Mạch thì lại tưởng tượng ra một vị vua thứ tư. Vị vua thứ tư này đến chầu Chúa Giêsu sau ba vị vua khác. Triều bái Hài Nhi Giêsu nhưng mặt ông tiu nghỉu bởi vì ông không còn gì để dâng tặng Ngài.

Trước khi lên đường, ông chọn ba viên ngọc quý nhất trong kho tàng của ông, thế những dọc đường gặp bất cứ ai xin, ông cũng mang ra tặng hết. Người thứ nhất mà ông đã gặp là một cụ già rét run vì lạnh. Ðộng lòng trắc ẩn, ông đã tặng cho cụ viên ngọc thứ nhất. Ði thêm một đoạn đường nữa, ông gặp một toán lính đang làm nhục một cô gái. Ông đành mang viên ngọc thứ hai ra thương lượng với chúng để chuộc lại cô gái. Cuối cùng khi tiến vào địa hạt Bêlem, ông gặp một người lính do vua Herôđê sai đi để tàn sát các hài nhi trong một ngôi làng lân cận. Vị vua thứ tư đành phải rút ra viên ngọc cuối cùng để tặng cho người lính và thuyết phục anh từ bỏ ý định gian ác.

Tìm được Hài Nhi Giêsu, vị vua thứ tư chỉ còn hai bàn tay trắng. Ông bối rối kể lại cuộc hành trình của mình.

Nghe xong câu chuyện, Hài Nhi Giêsu mỉm cười đưa bàn tay bé nhỏ ra đón nhận quà tặng của ông. Nó không phải là vàng bạc châu báu, nhưng là tấm lòng vàng được dệt bằng những nghĩa cử đối với tha nhân, nhất là những người túng thiếu, đói khổ, những người cần giúp đỡ.

Mùa Giáng Sinh là mùa của những bất ngờ. Bất ngờ của một Thiên Chúa hóa thân làm người. Bất ngờ của một thiên Chúa giáng hạ trong hang súc vật. Bất ngờ sự việc những người nghèo hèn nhất trong xã hội đã nhận ra Tin Mừng. Bất ngờ của những người dân ngoại tìm đến triều bái Vua các vua. Nhưng điều khiến con người sẽ không bao giờ ngờ đến: đó là Ðấng Thiên Chúa hóa thân làm người ấy lại tự đồng hóa với mỗi một con người sinh ra trên cõi đời này, nhất là những con người bé mọn nhất trong xã hội. Ngài đã nói: tất cả những gì các người làm cho một trong những kẻ bé mọn nhất là các người làm cho chính Ta. Từ đây, người ta chỉ có thể gặp gỡ được Ngài qua tha nhân. Tất cả những gì người ta làm cho tha nhân là làm cho chính Ngài. Lễ dâng làm đẹp lòng Ngài nhất chính là những gì người ta trao tặng cho tha nhân, nhất là những người nghèo hèn túng thiếu hay bất cứ ai cần sự giúp đỡ.

 

SỨ GIẢ HÒA BÌNH

Thánh Phanxico Assisi, vị sứ giả Hòa Bình, không những đã có một tình bác ái cao độ đối với con người, Ngài còn trải dài tinh yêu thương ấy đến cả muôn vật, cỏ cây.

Cây cỏ gợi lại cho Thánh nhân chính Cây thập giá của Chúa Giêsu, do đó, Thánh nhân cảm thấy thương tâm vô cùng mỗi khi có người hành hạ cây cỏ. Ngài nói với người làm vườn như sau: Anh hãy để lại một góc vườn nguyên vẹn. Ðừng sờ đến cây cỏ, hãy để cho chúng sinh sôi nảy nở và lớn lên, ngay cả cỏ dại và hoa dại.

Mỗi lần đi qua góc vườn ấy, Ngài bước đi nhẹ nhàng và cẩn thận để không sát hại bất cứ một loại sâu bọ, côn trùng nào. Gặp người ta mang chiên và chim rừng ra chợ bán, Ngài mua hết để rồi phóng sinh chúng.

Ngài nói với chim chóc như sau: "Hỡi những người anh em nhỏ bé của tôi, anh em phải ca ngợi Ðấng Tạo Hóa hơn ai hết, vì Ngài đã ban cho anh em bộ lông đẹp, giọng hát hay cũng như lúa thóc anh em ăn thỏa thuê mà không phải gieo vãi".

Với chú chó sói, thánh nhân nhắn nhủ: "Anh sói ơi, anh quả thật đáng chết, vì anh đã cắn xé trẻ em. Anh hãy làm hòa với loài người. Từ nay, anh hãy ăn ở hiền lành và mọi người sẽ cung cấp đầy đủ cho anh". Chú sói ấy đã cùng với thánh nhân lên tỉnh và trở thành người bạn thân của các trẻ em ở Gubbio.

Một con người có tâm hồn như thế quả thực xứng đáng được chọn làm sứ giả Hòa Bình qua mọi thời đại.

Năm 1979, Ðức Gioan Phaolô II đã công bố Thánh Phanxico là quan thầy của những người khởi xướng phong trào của những người bảo vệ môi sinh. Ngài nói trong phần mở đầu sứ điệp Hòa Bình năm 1990 như sau: "Ngày nay, con người mỗi lúc một ý thức rằng Hòa Bình của thế giới không những chỉ bị đe dọa vì cuộc chạy đua võ trang, vì các xung đột giữa các vùng và những bất công liên tục giữa các dân tộc và quốc gia, nhưng còn bởi vì thiếu tôn trọng đối với thiên nhiên nữa".

Ðức Gioan Phaolô II đã nói đến việc bảo vệ và tôn trọng môi sinh như một nghĩa vụ luân lý.

Người Kitô nhận thức được nghĩa vụ ấy, bởi vì Thiên Chúa đã tạo dựng nên muôn vật tốt đẹp và để con người hưởng dụng một cách hợp lý. Trong phần kết thúc sứ điệp, Ðức Thánh Cha đã nhắc đến Thánh Phanxico Assisi như mẫu gương của sự tôn trọng đối với thiên nhiên vạn vật. Thánh nhân đã mời gọi vạn vật dâng lời chúc tụng và thờ lạy Thiên Chúa. Trong sự bình an của Thiên Chúa, Thánh nhân kiến tạo ngay cả sự hòa hợp với thiên nhiên và sự hòa hợp ấy cũng là điều kiện tiên quyết để được hòa bình với tha nhân.

 

HẠT GIỐNG CỦA HY VỌNG

Văn hào Shakespeare của nước Anh đã nói rằng: liều thuốc duy nhất còn lại cho những người khốn khổ chính là niềm Hy Vọng. Bao lâu còn hy vọng, bấy lâu con người muốn tiếp tục sống.

Những người Mỹ tại một thành phố nọ thường truyền tụng cho nhau nghe câu chuyện nuôi niềm hy vọng của một gia đình nọ như sau: Có một đôi vợ chồng nọ vừa yêu người cũng lại vừa yêu thiên nhiên. Ngoài năm đứa con ruột thịt ra, họ còn nhận thêm năm đứa con nuôi. Niềm vui chung của mọi người trong nhà là được săn sóc vườn hoa và những thứ cây cảnh trong nhà. Người vợ tưởng chừng như không biết thế nào là đau khổ. Nhưng cả bầu trời như sụp xuống, vườn hoa trở thành hoang tàn, khi người chồng ngộ nạn, qua đời. Kể từ đó, người đàn bà không còn muốn ra khỏi nhà nữa. Thiếu bàn tay săn sóc của bà, ngôi vườn cũng mỗi lúc một tàn lụi.

Mùa đông đến càng làm cho ngày tháng càng thêm ảm đạm hơn. Thế nhưng, một bữa sáng nọ, người đàn bà bỗng nghe tiếng cười nói và cào xới trong ngôi vườn. Kéo tấm màn cửa sổ phòng ngủ lên, bà thấy các con của bà đang hì hục xới đất. Trước sự ngạc nhiên của bà, người con cả trong gia đình chỉ mỉm cười đáp: "Má sẽ biết khi mùa xuân đến". Và nguyên một mùa đông, ngày nào các con của bà cũng ra vườn để xới đất.

Thế rồi khi mùa xuân đến, bao nhiêu hoa đẹp đều nở rộ trong vườn. Những hạt giống mà những người con đã âm thầm gieo vãi trong mùa đông nay thức giấc bừng dậy làm cho ngôi vườn trở thành tươi mát, sặc sỡ.

Cùng với hạt giống của các thứ hoa, những người con đã gieo vào lòng người mẹ một thứ hạt giống khác: đó là hạt giống của Hy Vọng. Chính niềm hy vọng đó đã đem người đàn bà trở lại cuộc sống và đánh tan mọi buồn phiền trong tâm hồn bà.

Câu chuyện trên đây có lẽ cũng chính là bức tranh của không biết bao nhiêu thăng trầm trong cuộc sống hiện tại của chúng ta. Có những ngày tháng, mọi sự xem chừng như vô vọng. Có những lúc mây mù của khổ đau bao phủ kín khiến chúng ta không còn thấy đâu là lối thoát. Chính trong những lúc đó, chúng ta hãy nhớ đến hạt giống của niềm Hy Vọng. Thánh Phaolô đã viết trong thư gửi cho các tín hữu Rôma như sau: "Chính trong niềm Hy Vọng mà chúng ta được cứu thoát. Chính trong niềm Hy Vọng đó, chúng hãy nhìn thấy Sức Sống đang chờ đợi chúng ta. Chính trong niềm Hy Vọng đó, chúng ta hãy nhìn thấy những hoa trái của những hạt giống mà chúng ta đã vất vả gieo vãi.

Một người Hòa Lan và một người Mỹ bàn về ý nghĩa của hai lá cờ quốc gia. Người hòa Lan phát biểu một cách mỉa mai như sau: lá cờ của chúng tôi có ba màu: đỏ, trắng, xanh. Chúng tôi tức giận đỏ cả người lên, mỗi khi chúng tôi bàn đến thuế má. Chúng tôi run sợ đến trắng bệch cả người mỗi khi chúng tôi nhận được giấy thuế má. Và chúng tôi xanh như tàu lá sau khi đã trả hết các thứ thuế. Người Mỹ cũng nói lên một cảm tưởng tương tự mỗi khi nhận được các thứ giấy đòi nợ, nhưng lại bảo rằng: bù lại, chúng tôi chỉ thấy toàn các thứ sao.

Sao trên bầu trời là biểu hiện của chính niềm Hy Vọng. Bên kia những vất vả thử thách, bên kia những mất mát, bên kia những thất bại khổ đau, phải chăng người Kitô chúng ta không được mời gọi để thấy được các ngôi sao của niềm Hy Vọng. Thế giới thuộc về những ai có cái nhìn cao hơn và xa hơn, mọi người được mời gọi nhìn đến cùng đích tối hậu của đời mình là hạnh phúc vĩnh cửu chung quanh Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Từ đó chúng ta sống dưới đất này như những anh chị em , con cái của một Chúa Cha trên trời. Nếu chỉ dừng lại ở những gì chóng qua của trần gian và của đời người, chúng ta mãi mãi sẽ sống trong ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa, tranh chấp hơn thua, chiến tranh, hận thù, chia rẽ, đố kỵ, và tàn bạo với nhau. Như một đại gia đình, mọi tài năng, thời gian, tiền bạc mỗi người chúng ta có được, đều để phục vụ, mang lại những gì tốt nhất cho nhau là hạnh phúc của một tâm hồn có tình yêu quảng đại.