|
BẢN
TIN MỤC VỤ
CHÚA
NHẬT LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA (6/1/2013)
SAINT JOSEPH CATHOLIC CHURCH – NHÀ THỜ THÁNH GIUSE
1375 SOUTH MICKLEY AVENUE, INDIANAPOLIS, IN 46241 – PHONE:
317-244-9002 - FAX: 244-0278
Điện thoại dành
riêng cho VN: 813-451-4743; Email: mduongindy@yahoo.com
|
|||||
|
GHI DANH VÀO GIÁO XỨ
Theo quy định của Giáo phận, người công giáo cần ghi danh gia nhập
Giáo xứ nơi thường trú và tham dự Phụng Vụ để tiện việc nhận các Bí tích và
các chương trình giáo dục Công giáo. Xin ghi danh càng sớm càng tốt.
|
|||||
|
VĂN PHÒNG GIÁO XỨ
-
Chánh xứ: Rev. Robert T. Hausladen
-
Quản nhiệm: Rev. Giuse Dương Quang Minh
BAN CHẤP HÀNH
-
Chủ tịch: Eric Hoàng (317-850-2988)
-
Nội vụ: Hùng Nguyễn (317-874-6216)
-
Ngoại vụ: Lãm Nguyễn (317-503-2129)
-
Thư ký: Thọ Lê (317-219-9562)
CÁC
ỦY BAN
1.
BAN
PHỤNG VỤ
-
Doanh Vũ (317-219-5470)
-
Tâm Đỗ (951-801-0485)
2.
BAN
GIÁO LÝ
-
Nam Nguyễn (682-551-8072)
-
Sr. Anna Nhung Ho (909-576-1868)
3.
BAN
TÀI CHÁNH
-
Việt Anh Nguyễn (317-926-1446)
-
Hương Chu
4.
BAN
BÁC ÁI XÃ HỘI
-
Nga Ngô (317-298-8150)
5.
BAN
ẨM THỰC
-
Diễm Hoàng (720-236-3136)
-
Thoa Đinh
6.
BAN
THÁNH NHẠC/VĂN NGHỆ
-
Thông Đức Nguyễn (317-702-2126)
-
Vinh Nguyễn (317-414-4429)
7.
BAN
KHÁNH TIẾT
-
Quỳnh Lê (626-560-3146)
|
||||
|
CHƯƠNG TRÌNH MỤC VỤ THƯỜNG NIÊN
V
1. THÁNH LỄ TIẾNG VIỆT NGÀY CHÚA NHẬT: 1:00 Pm và 6:00 Pm
2. THÁNH LỄ NGÀY THƯỜNG: 5:45 Pm.
(Lễ
tiếng Anh)
3. GIẢI TỘI: 12:30 Pm. (trước giờ thánh
lễ mỗi Chúa nhật). Các ngày khác, xin liên lạc sắp xếp thời giờ.
4. GIÁO LÝ HÔN NHÂN: Mỗi tháng 2 lần vào
Chúa nhật.
5. RỬA TỘI TRẺ EM: 1:00 Pm. Trong thánh
lễ Chúa nhật thứ II và III mỗi tháng.
RỬA TỘI NGƯỜI LỚN: Trong lễ Vọng Phục
Sinh hoặc trong thánh lễ Chúa nhật.
6. HÔN PHỐI & DỰ TÒNG: Cần gặp Cha
Quản nhiệm ít nhất 6 tháng trước ngày cưới, và không bị mắc ngăn trở.
7. TANG LỄ: Những ai thuộc giáo dân nhà
thờ Thánh Giuse, gọi Cha Quản nhiệm hoặc Chủ tịch cộng đoàn để xếp chương
trình tang lễ và thông báo cho cộng đoàn.
8. XỨC DẦU THÁNH: Cần linh mục cho bệnh
nhân, gọi bất cứ giờ nào (813-451-4743)
9. ĐEM MÌNH THÁNH CHÚA CHO NGƯỜI ĐAU YẾU:
Vào sáng thứ Năm hàng tuần.
|
LỊCH PHỤNG VỤ TRONG TUẦN
V
Chúa Nhật: 13
tháng 1: Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa Is 55:1-11; Is 12:2-3,4,5-6; 1 Ga 5:1-9; Mc 1:7-11;
Thánh Vịnh
tuần 1
Thứ Tư: 16 tháng
1: Thứ Tư trong tuần thứ 1 Mùa Quanh Năm Dt 2:14-18;
Tv 105:1-2,3-4,6-7,8-9; Mc 1:29-39
Chúa Nhật: 20
tháng 1: Chúa Nhật thứ 2 Mùa Quanh Năm Is 62:1-5; Tv 96:1-2,2-3,7-8,9-10; 1 Cr 12:4-11; Ga
2:1-11, Thánh Vịnh tuần 2
|
||||
|
NHỮNG NGƯỜI XIN LỄ TRONG TUẦN
- Gia
đình Chị Yến xin cầu cho các linh hồn Giuse, Maria và Phêrô.
- Một
người xin tạ ơn.
BÁO CÁO TÀI CHÍNH HẰNG TUẦN
- Tiền
xin giỏ trong nhà thờ Chúa Nhật Lễ Hiển Linh: $ 531.00.
|
ĐỌC SÁCH THÁNH VÀ LỜI NGUYỆN
LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA (13/1/2013)
Đọc sách thánh
-
Bài đọc I: Minh Nguyễn
-
Bài đọc II: Thoa Nguyễn
Lời nguyện: Nguyễn Hùng
CHÚA NHẬT II TN C (20/1/2013)
Đọc sách thánh
-
Bài đọc I: Martin Nguyễn Trần Duy Linh
-
Bài đọc II: Maria Phan Ngọc Hạnh
Lời nguyện: Anna Nguyễn
Lê Ngọc Nga
CHÚA NHẬT III TN C (27/1/2013)
Đọc sách thánh
-
Bài đọc I: Phanxicô Nguyễn Đình Ngôn
-
Bài đọc II: Anna Nguyễn Lê Ngọc Ngân
Lời nguyện: Macta Ngô
Thị Nga
CHÚA NHẬT IV TN C (3/2/2013): Các Em Lớp Giáo Lý đảm trách.
CHÚA NHẬT V TN C (10/2/2013)
Đọc sách thánh
-
Bài đọc I: Antôn Nguyễn Thành Thông
-
Bài đọc II: Giuse Nguyễn Quốc Hùng
Lời nguyện: Maria Phan
Ngọc Hạnh
|
||||
BIÊN ĐỘ CỦA THÁNH KINH
Pilinszky János
Pilinszky János
Con người là thực thể xã
hội. Trong khái niệm tâm huyết hơn: con người là thực thể sinh ra cho tình yêu
thương. Vậy mà, để yêu thương cũng khó, nhận lấy lòng yêu thương cũng khó.
Ấn tượng của kẻ “sinh ra cho tình yêu thương” luôn luôn là: một mặt người ta không yêu thương tôi “đủ”, mặt khác người ta không cho phép tôi yêu thương, hoặc yêu thương một cách “thật sự”.
Chúng ta có thể liệt kê hàng loạt những nguyên nhân của kinh nghiệm, của bi kịch tình yêu thương con người, và cho dù ta có thể làm dịu đi nỗi đau chúng mang lại, nhưng mâu thuẫn của bi kịch này vẫn còn nguyên: Con người sinh ra cho lòng yêu thương, nhưng vô ích kiếm tìm sự thực hiện hoàn hảo tình yêu thương trên quả đất.
Tình yêu thương thật sự- như các thi sĩ thánh kinh thường nói- là bộ sưu tập của tất cả các đức hạnh trần tục: sự khiêm nhường, lòng kiên nhẫn, sự hiền dịu, hiến dâng, lòng trung thành và sự anh minh.
Thế nhưng thử thách chân chính của tình yêu thương chân chính lại là, không run sợ trước tình yêu thương của kẻ khác, để ngập tràn lòng nhân từ, sự kiên nhẫn và khiêm nhường đón nhận tình yêu thương .
Đã bao nhiêu lần chúng ta nghe nói đến một tình yêu thương nặng gánh, gây bực bội, không thể chịu đựng nổi. Và đã bao nhiêu lần chúng ta thấy trong tình yêu, cuộc đấu súng của đôi “tình nhân”, cuộc chiến của kẻ săn đuổi và kẻ bị truy rượt, chủ nghĩa man rợ ăn thịt lẫn nhau thực sự của tình yêu thương.
Bởi vậy, trước bi thảm của tình yêu thương của con người Kinh Thánh vẫn là cuốn sách lớn của mọi cuốn sách. Thượng Đế sống trong Lời, là kẻ cho phép người khác yêu thương mình! Đấy là nhận thức tuyệt hảo nhất của tình yêu thương.
Và ai một lần đã đạt đến mức cảm thấy những từ ngữ của Kinh Thánh hoàn toàn quện lấy mình, với kẻ đó bằng chứng sâu sắc thánh thiện nhất là bằng chứng tình yêu thương của Thánh Kinh. Thượng Đế là người mà ta có thể yêu thương được. Không một cơn khát nào bị ngăn cản.
Francois Mauriac đã phân tích một nhân vật trở thành linh mục như sau: “Nếu anh ta yêu một người nào đấy, luôn luôn người ấy là kẻ mà anh ta yêu hơn cả, và những trái tim như thế là những con mồi dễ dàng cho Thượng Đế”.
Thật là một định nghĩa táo tợn, mà bản chất của nó có thể dịch như sau: với những trái tim như vậy chỉ một mình Thượng Đế biết hiến dâng bản thân Ngài cho nó mà thôi! Thậm chí Ngài chỉ ôm vào lòng những kẻ như vậy.
Những kẻ mà bên cạnh tình yêu thương của họ tất cả mọi người đều tháo chạy, những kẻ đó khao khát đợi chờ Thượng Đế nhiều nhất- một cách thầm kín, nhưng gần gũi, vô hình với sự gắn bó diệu kỳ nhất.
Bởi vậy thật an ủi sau một ngày phiền nhiễu mệt mỏi nặng nề, trong tĩnh lặng của màn đêm lật giở từng trang-từng trang Kinh Thánh. Và đây cũng là điều bất tử trong sách Thánh: tình yêu thương, sự tuyệt vời của tình yêu thương siêu việt.
Rất nhiều lần tôi đã trầm ngâm, cuộc gặp gỡ đầu tiên với Chúa Giê su đã mang lại cú sốc như thế nào đối với một người đọc Hy lạp hay Latin?
Bởi vì chúng ta biết một định luật thiêng tàn bạo trong các truyện thần thoại, khi vị thần mới truất ngôi vị thần cũ, Zeus hạ bệ Kronos, như những chiếc lá mới xô đẩy những chiếc lá năm ngoái, như trong các bộ lạc man rợ cậu con trai giết cha. Sự phát triển đòi hỏi nạn nhân, và ngay đến sự ra đời và cái chết của các thần linh cũng phản ánh quy luật thiên nhiên trần trụi này.
Người đọc được nuôi dưỡng từ các thần thoại Hy lạp và Latin chắc chắn sẽ hết sức ngạc nhiên khi đọc về mối quan hệ giữa Cha và Con trong Kinh Thánh, để tự ngẫm với mình bằng trái tim và trí óc kinh ngạc rằng:”Ôi, đây là một Thượng Đế mới, kẻ ra mắt Cha như một nạn nhân trong sạch. BA NGÔI là chiến thắng của tình yêu thương, đã chặn đứng một dãy dài, một quá trình tiến hóa tội lỗi khủng khiếp. Trong BA NGÔI, thật sự Thượng Đế vĩnh cửu đã đến với chúng ta.”
“Các ngươi đừng sợ hãi, ta đã chiến thắng thế gian”- Chúa Giê su nói, và khi Chúa nói điều này, chúng ta hiểu, người nghĩ đến một tình thương yêu vô bờ bến. Tình yêu thương là thứ không thể trôi qua, là thứ không thể tránh khỏi và vĩnh viễn không bao giờ bị bỏ quên. Tình yêu thương là khái niệm sâu sắc nhất chúng ta tạo dựng về hiện thực.
Ngôn từ của Chúa từ tình yêu thương mới khẽ khàng làm sao, chiến thắng của Người từ tình yêu thương mới êm dịu và kiên nhẫn làm sao. Và vì không có sự sống vĩnh cửu nếu thiếu tình yêu thương, nên chỉ một mình tình yêu thương mới có thể an bài trong vĩnh cửu và toàn diện.
Kinh Thánh là bằng chứng yêu thương vĩ đại duy nhất bên cạnh sự sống Thượng Đế, cũng như bí ẩn của BA NGÔI có thể tiếp cận gần gũi nhất bằng logic của tình yêu thương.
Từ đây có sự hiện đại vĩnh cửu của Kinh Thánh.
Ấn tượng của kẻ “sinh ra cho tình yêu thương” luôn luôn là: một mặt người ta không yêu thương tôi “đủ”, mặt khác người ta không cho phép tôi yêu thương, hoặc yêu thương một cách “thật sự”.
Chúng ta có thể liệt kê hàng loạt những nguyên nhân của kinh nghiệm, của bi kịch tình yêu thương con người, và cho dù ta có thể làm dịu đi nỗi đau chúng mang lại, nhưng mâu thuẫn của bi kịch này vẫn còn nguyên: Con người sinh ra cho lòng yêu thương, nhưng vô ích kiếm tìm sự thực hiện hoàn hảo tình yêu thương trên quả đất.
Tình yêu thương thật sự- như các thi sĩ thánh kinh thường nói- là bộ sưu tập của tất cả các đức hạnh trần tục: sự khiêm nhường, lòng kiên nhẫn, sự hiền dịu, hiến dâng, lòng trung thành và sự anh minh.
Thế nhưng thử thách chân chính của tình yêu thương chân chính lại là, không run sợ trước tình yêu thương của kẻ khác, để ngập tràn lòng nhân từ, sự kiên nhẫn và khiêm nhường đón nhận tình yêu thương .
Đã bao nhiêu lần chúng ta nghe nói đến một tình yêu thương nặng gánh, gây bực bội, không thể chịu đựng nổi. Và đã bao nhiêu lần chúng ta thấy trong tình yêu, cuộc đấu súng của đôi “tình nhân”, cuộc chiến của kẻ săn đuổi và kẻ bị truy rượt, chủ nghĩa man rợ ăn thịt lẫn nhau thực sự của tình yêu thương.
Bởi vậy, trước bi thảm của tình yêu thương của con người Kinh Thánh vẫn là cuốn sách lớn của mọi cuốn sách. Thượng Đế sống trong Lời, là kẻ cho phép người khác yêu thương mình! Đấy là nhận thức tuyệt hảo nhất của tình yêu thương.
Và ai một lần đã đạt đến mức cảm thấy những từ ngữ của Kinh Thánh hoàn toàn quện lấy mình, với kẻ đó bằng chứng sâu sắc thánh thiện nhất là bằng chứng tình yêu thương của Thánh Kinh. Thượng Đế là người mà ta có thể yêu thương được. Không một cơn khát nào bị ngăn cản.
Francois Mauriac đã phân tích một nhân vật trở thành linh mục như sau: “Nếu anh ta yêu một người nào đấy, luôn luôn người ấy là kẻ mà anh ta yêu hơn cả, và những trái tim như thế là những con mồi dễ dàng cho Thượng Đế”.
Thật là một định nghĩa táo tợn, mà bản chất của nó có thể dịch như sau: với những trái tim như vậy chỉ một mình Thượng Đế biết hiến dâng bản thân Ngài cho nó mà thôi! Thậm chí Ngài chỉ ôm vào lòng những kẻ như vậy.
Những kẻ mà bên cạnh tình yêu thương của họ tất cả mọi người đều tháo chạy, những kẻ đó khao khát đợi chờ Thượng Đế nhiều nhất- một cách thầm kín, nhưng gần gũi, vô hình với sự gắn bó diệu kỳ nhất.
Bởi vậy thật an ủi sau một ngày phiền nhiễu mệt mỏi nặng nề, trong tĩnh lặng của màn đêm lật giở từng trang-từng trang Kinh Thánh. Và đây cũng là điều bất tử trong sách Thánh: tình yêu thương, sự tuyệt vời của tình yêu thương siêu việt.
Rất nhiều lần tôi đã trầm ngâm, cuộc gặp gỡ đầu tiên với Chúa Giê su đã mang lại cú sốc như thế nào đối với một người đọc Hy lạp hay Latin?
Bởi vì chúng ta biết một định luật thiêng tàn bạo trong các truyện thần thoại, khi vị thần mới truất ngôi vị thần cũ, Zeus hạ bệ Kronos, như những chiếc lá mới xô đẩy những chiếc lá năm ngoái, như trong các bộ lạc man rợ cậu con trai giết cha. Sự phát triển đòi hỏi nạn nhân, và ngay đến sự ra đời và cái chết của các thần linh cũng phản ánh quy luật thiên nhiên trần trụi này.
Người đọc được nuôi dưỡng từ các thần thoại Hy lạp và Latin chắc chắn sẽ hết sức ngạc nhiên khi đọc về mối quan hệ giữa Cha và Con trong Kinh Thánh, để tự ngẫm với mình bằng trái tim và trí óc kinh ngạc rằng:”Ôi, đây là một Thượng Đế mới, kẻ ra mắt Cha như một nạn nhân trong sạch. BA NGÔI là chiến thắng của tình yêu thương, đã chặn đứng một dãy dài, một quá trình tiến hóa tội lỗi khủng khiếp. Trong BA NGÔI, thật sự Thượng Đế vĩnh cửu đã đến với chúng ta.”
“Các ngươi đừng sợ hãi, ta đã chiến thắng thế gian”- Chúa Giê su nói, và khi Chúa nói điều này, chúng ta hiểu, người nghĩ đến một tình thương yêu vô bờ bến. Tình yêu thương là thứ không thể trôi qua, là thứ không thể tránh khỏi và vĩnh viễn không bao giờ bị bỏ quên. Tình yêu thương là khái niệm sâu sắc nhất chúng ta tạo dựng về hiện thực.
Ngôn từ của Chúa từ tình yêu thương mới khẽ khàng làm sao, chiến thắng của Người từ tình yêu thương mới êm dịu và kiên nhẫn làm sao. Và vì không có sự sống vĩnh cửu nếu thiếu tình yêu thương, nên chỉ một mình tình yêu thương mới có thể an bài trong vĩnh cửu và toàn diện.
Kinh Thánh là bằng chứng yêu thương vĩ đại duy nhất bên cạnh sự sống Thượng Đế, cũng như bí ẩn của BA NGÔI có thể tiếp cận gần gũi nhất bằng logic của tình yêu thương.
Từ đây có sự hiện đại vĩnh cửu của Kinh Thánh.
Nguồn:Tạp chí”Con người mới”. 1962.06.03 Nguyễn Hồng Nhung dịch
từ nguyên bản tiếng Hung
VỊ VUA THỨ TƯ
Hôm lễ Ba Vua. Phúc Am chỉ nhắc đến ba vị vua. Thế
nhưng văn sĩ Joergernen người Ðan Mạch
thì lại tưởng tượng ra một vị vua thứ tư.
Vị vua thứ tư này đến chầu Chúa Giêsu sau ba vị vua khác. Triều bái Hài Nhi
Giêsu nhưng mặt ông tiu nghỉu bởi vì ông không còn gì để dâng tặng Ngài.
Trước khi lên đường, ông chọn ba viên ngọc quý nhất trong kho tàng của ông, thế những dọc
đường gặp bất cứ ai xin, ông cũng mang ra tặng hết. Người thứ nhất mà ông đã
gặp là một cụ già rét run vì lạnh.
Ðộng lòng trắc ẩn, ông đã tặng cho cụ viên ngọc thứ nhất. Ði thêm một đoạn
đường nữa, ông gặp một toán lính đang làm nhục một cô gái. Ông đành mang viên ngọc thứ hai ra thương lượng với chúng
để chuộc lại cô gái. Cuối cùng khi
tiến vào địa hạt Bêlem, ông gặp một người lính do vua Herôđê sai đi để tàn sát
các hài nhi trong một ngôi làng lân cận. Vị vua thứ tư đành phải rút ra viên
ngọc cuối cùng để tặng cho người lính và
thuyết phục anh từ bỏ ý định gian ác.
Tìm được Hài Nhi Giêsu, vị vua thứ tư chỉ còn hai bàn tay trắng. Ông bối rối kể lại cuộc
hành trình của mình.
Nghe xong câu chuyện, Hài Nhi Giêsu mỉm cười đưa bàn tay bé nhỏ ra đón nhận quà tặng của ông.
Nó không phải là vàng bạc châu báu, nhưng là tấm lòng vàng được dệt bằng những
nghĩa cử đối với tha nhân, nhất là những người túng thiếu, đói khổ, những người
cần giúp đỡ.
Mùa Giáng Sinh là mùa của những bất ngờ. Bất ngờ của một
Thiên Chúa hóa thân làm người. Bất ngờ của một thiên Chúa giáng hạ trong hang
súc vật. Bất ngờ sự việc những người nghèo hèn nhất trong xã hội đã nhận ra Tin
Mừng. Bất ngờ của những người dân ngoại tìm đến triều bái Vua các vua. Nhưng
điều khiến con người sẽ không bao giờ ngờ đến: đó là Ðấng Thiên Chúa hóa thân làm người ấy lại tự đồng hóa với mỗi một con
người sinh ra trên cõi đời này, nhất là những con người bé mọn nhất trong xã
hội. Ngài đã nói: tất cả những gì các người làm cho một trong những kẻ bé
mọn nhất là các người làm cho chính Ta. Từ đây, người ta chỉ có thể gặp gỡ được
Ngài qua tha nhân. Tất cả những gì người ta làm cho tha nhân là làm cho chính
Ngài. Lễ dâng làm đẹp lòng Ngài nhất
chính là những gì người ta trao tặng cho tha nhân, nhất là những người nghèo
hèn túng thiếu hay bất cứ ai cần sự giúp đỡ.
SỨ GIẢ HÒA BÌNH
Thánh
Phanxico Assisi, vị sứ giả Hòa Bình, không những đã có một tình bác ái
cao độ đối với con người, Ngài còn trải dài tinh yêu thương ấy đến cả muôn vật,
cỏ cây.
Cây cỏ gợi lại cho Thánh nhân chính Cây thập giá của Chúa
Giêsu, do đó, Thánh nhân cảm thấy thương tâm vô cùng mỗi khi có người hành hạ
cây cỏ. Ngài nói với người làm vườn như sau: Anh hãy để lại một góc vườn nguyên
vẹn. Ðừng sờ đến cây cỏ, hãy để cho chúng sinh sôi nảy nở và lớn lên, ngay cả
cỏ dại và hoa dại.
Mỗi lần đi qua góc vườn ấy, Ngài bước đi nhẹ nhàng và cẩn
thận để không sát hại bất cứ một loại sâu bọ, côn trùng nào. Gặp người ta mang
chiên và chim rừng ra chợ bán, Ngài mua hết để rồi phóng sinh chúng.
Ngài nói với chim chóc như sau: "Hỡi những người anh
em nhỏ bé của tôi, anh em phải ca ngợi Ðấng Tạo Hóa hơn ai hết, vì Ngài đã ban
cho anh em bộ lông đẹp, giọng hát hay cũng như lúa thóc anh em ăn thỏa thuê mà
không phải gieo vãi".
Với chú chó sói, thánh nhân nhắn nhủ: "Anh sói ơi,
anh quả thật đáng chết, vì anh đã cắn xé trẻ em. Anh hãy làm hòa với loài
người. Từ nay, anh hãy ăn ở hiền lành và mọi người sẽ cung cấp đầy đủ cho
anh". Chú sói ấy đã cùng với thánh nhân lên tỉnh và trở thành người bạn
thân của các trẻ em ở Gubbio.
Một con người có tâm hồn như thế quả thực xứng đáng được
chọn làm sứ giả Hòa Bình qua mọi thời đại.
Năm 1979, Ðức Gioan Phaolô II đã công bố Thánh Phanxico là quan thầy của những người
khởi xướng phong trào của những người bảo vệ môi sinh. Ngài nói trong phần
mở đầu sứ điệp Hòa Bình năm 1990 như sau: "Ngày nay, con người mỗi lúc một
ý thức rằng Hòa Bình của thế giới không
những chỉ bị đe dọa vì cuộc chạy đua võ trang, vì các xung đột giữa các vùng và
những bất công liên tục giữa các dân tộc và quốc gia, nhưng còn bởi vì thiếu
tôn trọng đối với thiên nhiên nữa".
Ðức Gioan Phaolô II đã nói đến việc bảo vệ và tôn trọng môi sinh như một nghĩa vụ luân lý.
Người Kitô nhận thức được nghĩa vụ ấy, bởi vì Thiên Chúa
đã tạo dựng nên muôn vật tốt đẹp và để con người hưởng dụng một cách hợp lý.
Trong phần kết thúc sứ điệp, Ðức Thánh Cha đã nhắc đến Thánh Phanxico Assisi như mẫu gương của sự tôn trọng đối với thiên
nhiên vạn vật. Thánh nhân đã mời gọi vạn vật dâng lời chúc tụng và thờ lạy
Thiên Chúa. Trong sự bình an của Thiên
Chúa, Thánh nhân kiến tạo ngay cả sự hòa hợp
với thiên nhiên và sự hòa hợp ấy cũng là điều kiện tiên quyết để được hòa bình
với tha nhân.
HẠT GIỐNG CỦA HY VỌNG
Văn hào
Shakespeare của nước Anh đã nói rằng: liều
thuốc duy nhất còn lại cho những người khốn khổ chính là niềm Hy Vọng. Bao lâu còn hy vọng, bấy lâu
con người muốn tiếp tục sống.
Những người Mỹ tại một thành phố nọ thường truyền tụng
cho nhau nghe câu chuyện nuôi niềm hy vọng của một gia đình nọ như sau: Có một
đôi vợ chồng nọ vừa yêu người cũng lại vừa yêu thiên nhiên. Ngoài năm đứa con
ruột thịt ra, họ còn nhận thêm năm đứa con nuôi. Niềm vui chung của mọi người
trong nhà là được săn sóc vườn hoa và những thứ cây cảnh trong nhà. Người vợ
tưởng chừng như không biết thế nào là đau khổ. Nhưng cả bầu trời như sụp xuống,
vườn hoa trở thành hoang tàn, khi người chồng ngộ nạn, qua đời. Kể từ đó, người
đàn bà không còn muốn ra khỏi nhà nữa. Thiếu bàn tay săn sóc của bà, ngôi vườn
cũng mỗi lúc một tàn lụi.
Mùa đông đến càng làm cho ngày tháng càng thêm ảm đạm
hơn. Thế nhưng, một bữa sáng nọ, người đàn bà bỗng nghe tiếng cười nói và cào
xới trong ngôi vườn. Kéo tấm màn cửa sổ phòng ngủ lên, bà thấy các con của bà
đang hì hục xới đất. Trước sự ngạc nhiên của bà, người con cả trong gia đình
chỉ mỉm cười đáp: "Má sẽ biết khi mùa xuân đến". Và nguyên một mùa
đông, ngày nào các con của bà cũng ra vườn để xới đất.
Thế rồi khi mùa xuân đến, bao nhiêu hoa đẹp đều nở rộ
trong vườn. Những hạt giống mà những
người con đã âm thầm gieo vãi trong mùa đông nay thức giấc bừng dậy làm cho
ngôi vườn trở thành tươi mát, sặc sỡ.
Cùng với hạt giống của các thứ hoa, những người con đã
gieo vào lòng người mẹ một thứ hạt giống
khác: đó là hạt giống của Hy Vọng.
Chính niềm hy vọng đó đã đem người đàn bà trở lại cuộc sống và đánh tan mọi
buồn phiền trong tâm hồn bà.
Câu chuyện trên đây có lẽ cũng chính là bức tranh của
không biết bao nhiêu thăng trầm trong cuộc sống hiện tại của chúng ta. Có những
ngày tháng, mọi sự xem chừng như vô vọng. Có những lúc mây mù của khổ đau bao
phủ kín khiến chúng ta không còn thấy đâu là lối thoát. Chính trong những lúc
đó, chúng ta hãy nhớ đến hạt giống của niềm Hy Vọng. Thánh Phaolô đã viết trong
thư gửi cho các tín hữu Rôma như sau:
"Chính trong niềm Hy Vọng mà chúng ta được cứu thoát. Chính trong niềm
Hy Vọng đó, chúng hãy nhìn thấy Sức Sống đang chờ đợi chúng ta. Chính trong
niềm Hy Vọng đó, chúng ta hãy nhìn thấy những hoa trái của những hạt giống mà
chúng ta đã vất vả gieo vãi.
Một người Hòa Lan và một người Mỹ bàn về ý nghĩa của hai
lá cờ quốc gia. Người hòa Lan phát biểu một cách mỉa mai như sau: lá cờ của
chúng tôi có ba màu: đỏ, trắng, xanh. Chúng tôi tức giận đỏ cả người lên, mỗi
khi chúng tôi bàn đến thuế má. Chúng tôi run sợ đến trắng bệch cả người mỗi khi
chúng tôi nhận được giấy thuế má. Và chúng tôi xanh như tàu lá sau khi đã trả
hết các thứ thuế. Người Mỹ cũng nói lên một cảm tưởng tương tự mỗi khi nhận
được các thứ giấy đòi nợ, nhưng lại bảo rằng: bù lại, chúng tôi chỉ thấy toàn
các thứ sao.
Sao trên bầu
trời là biểu hiện của chính niềm Hy Vọng. Bên
kia những vất vả thử thách, bên kia những mất mát, bên kia những thất bại khổ
đau, phải chăng người Kitô chúng ta không được mời gọi để thấy được các ngôi
sao của niềm Hy Vọng. Thế giới thuộc về những ai có cái nhìn cao hơn và
xa hơn, mọi người được mời gọi nhìn đến cùng đích tối hậu của đời mình là hạnh
phúc vĩnh cửu chung quanh Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Từ đó chúng ta sống
dưới đất này như những anh chị em , con cái của một Chúa Cha trên trời. Nếu chỉ dừng lại ở những gì chóng qua của trần gian
và của đời người, chúng ta mãi mãi sẽ sống trong ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa,
tranh chấp hơn thua, chiến tranh, hận thù, chia rẽ, đố kỵ, và tàn bạo với nhau.
Như một đại gia đình, mọi tài năng, thời
gian, tiền bạc mỗi người chúng ta có được, đều để phục vụ, mang lại những gì
tốt nhất cho nhau là hạnh phúc của một tâm hồn có tình yêu quảng đại.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét