Translate

Thứ Hai, 11 tháng 2, 2013

Tết Nguyên Đán 02/10/2013


BẢN TIN MỤC VỤ
TEÁT NGUYEÂN ÑAÙN (10/2/2013)
SAINT JOSEPH CATHOLIC CHURCH – NHÀ THỜ THÁNH GIUSE
1375 S. MICKLEY AVENUE, INDIANAPOLIS, IN 46241 – PHONE: 317-244-9002 - FAX: 244-0278
Điện thoại dành riêng cho VN: 813-451-4743; Email: mduongindy@yahoo.com
GHI DANH VÀO GIÁO XỨ
Theo quy định của Giáo phận, người công giáo cần ghi danh gia nhập Giáo xứ nơi thường trú và tham dự Phụng Vụ để tiện việc nhận các Bí tích và các chương trình giáo dục Công giáo. Xin ghi danh càng sớm càng tốt.

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
COÄNG ÑOAØN CAÙC THAÙNH TÖÛ ÑAÏO
VIEÄT NAM TAÏI INDIANAPOLIS
KÍNH CHUÙC QUYÙ VÒ
MOÄT NAÊM MÔÙI
LUOÂN HOÀN AN XAÙC MAÏNH,
TRAØN ÑAÀY HOÀNG AÂN THIEÂN CHUÙA
VAØ ÑÖÙC MEÏ LAVANG.
 
Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA
THÁNG 2 NĂM 2013
 
-      Ý chung: Cầu cho các gia đình di dân, đặc biệt là các bà mẹ, nhận được sự trợ giúp và đồng hành trong những khó khăn của họ.
-      Ý truyền giáo: Cầu cho các dân tộc đang gặp thử thách về chiến tranh và xung đột tìm ra giải pháp để xây dựng một tương lai hoà bình.
 

 
VĂN PHÒNG GIÁO XỨ
 
-       Chánh xứ: Rev. Robert T. Hausladen
-       Quản nhiệm: Rev. Giuse Dương Quang Minh
 
BAN ĐẠI DIỆN
 
-       Chủ tịch: Eric Hoàng (317-850-2988)
-       Nội vụ: Hùng Nguyễn (317-874-6216)
-       Ngoại vụ: Lãm Nguyễn (317-503-2129)
-       Thư ký: Thọ Lê (317-219-9562)
 
CÁC ỦY BAN
 
1.      BAN PHỤNG VỤ
 
-       Doanh Vũ (317-219-5470)
-       Tâm Đỗ (951-801-0485)
 
2.      BAN GIÁO LÝ
 
-       Nam Nguyễn (682-551-8072)
-       Sr. Anna Nhung Ho (909-576-1868)
 
3.      BAN TÀI CHÁNH
 
-       Việt Anh Nguyễn (317-926-1446)
-       Hương Chu
 
4.      BAN BÁC ÁI XÃ HỘI
 
-       Nga Ngô (317-298-8150)
 
5.      BAN ẨM THỰC
 
-       Diễm Hoàng (720-236-3136)
-       Thoa Đinh
 
6.      BAN THÁNH NHẠC/VĂN NGHỆ
 
-       Thông Đức Nguyễn (317-702-2126)
-       Vinh Nguyễn (317-414-4429)
 
7.      BAN KHÁNH TIẾT
-       Quỳnh Lê (626-560-3146)
CHƯƠNG TRÌNH MỤC VỤ THƯỜNG NIÊN
V˜
 
1.      THÁNH LỄ TIẾNG VIỆT NGÀY CHÚA NHẬT: 1:00 Pm và 6:00 Pm
2.      THÁNH LỄ NGÀY THƯỜNG: 5:45 Pm.
(Lễ tiếng Anh)
3.      GIẢI TỘI: 12:30 Pm. (trước giờ thánh lễ mỗi Chúa nhật). Các ngày khác, xin liên lạc sắp xếp thời giờ.
4.      GIÁO LÝ HÔN NHÂN: Mỗi tháng 2 lần vào Chúa nhật.
5.      RỬA TỘI TRẺ EM: 1:00 Pm. Trong thánh lễ Chúa nhật thứ II và III mỗi tháng.
RỬA TỘI NGƯỜI LỚN: Trong lễ Vọng Phục Sinh hoặc trong thánh lễ Chúa nhật.
6.      HÔN PHỐI & DỰ TÒNG: Cần gặp Cha Quản nhiệm ít nhất 6 tháng trước ngày cưới, và không bị mắc ngăn trở.
7.      TANG LỄ: Những ai thuộc giáo dân nhà thờ Thánh Giuse, gọi Cha Quản nhiệm hoặc Chủ tịch cộng đoàn để xếp chương trình tang lễ và thông báo cho cộng đoàn.
8.      XỨC DẦU THÁNH: Cần linh mục cho bệnh nhân, gọi bất cứ giờ nào (813-451-4743)
9.      ĐEM MÌNH THÁNH CHÚA CHO NGƯỜI ĐAU YẾU: Vào sáng thứ Năm hàng tuần.
 
LỊCH PHỤNG VỤ TRONG TUẦN
V˜
 
Thứ Sáu: 15 tháng 2: Thứ Sáu sau Thứ Tư Lễ Tro
Is 58:1-9a; Ps 51:3-6a, 18-19; Mt 9: 14-15
 
 
NHỮNG NGƯỜI XIN LỄ TRONG TUẦN
-       Gia đình Hưng Loan xin lễ tạ ơn, cầu cho các linh hồn và gia đình được bình an.
-       Gia đình cô chú Lượt Ngôn xin cầu cho ông bà cha mẹ hai bên, tạ ơn năm cũ và bình an năm mới.
BÁO CÁO TÀI CHÍNH HẰNG TUẦN
-       Tiền xin giỏ trong nhà thờ Chúa Nhật IV Thường Niên C (ngày 3/2/13): $624.00
 
THÔNG BÁO
-       Thứ Ba (12/2): Mời Quý Ông Bà và Anh Chị Em tham dự Thánh lễ do Đức Tổng Giám Mục Giáo Phận chủ tế tại nhà thờ Malachy, giáo hạt phía Tây Indy, vào lúc 7:00PM. Địa chỉ: 9833 E. County Road 750 N, Brownsburg, IN 46112.
-       Thứ Tư Lễ Tro (13/2): Cộng đoàn sẽ có Thánh Lễ vào lúc 7:30PM. Buộc giữ chay và kiêng thịt trong ngày này. Theo luật của Giáo Hội Hoa Kỳ, tất cả các ngày thứ Sáu trong Mùa Chay phải kiêng thịt.
 
ĐỌC SÁCH THÁNH VÀ LỜI NGUYỆN
TẾT NGUYÊN ĐÁN (10/2/2013):
Đọc sách thánh
-       Bài đọc I: John Baptist Nguyễn Đình Minh
-       Bài đọc II: Maria Đinh Kim Thoa
Lời nguyện: Giuse Nguyễn Quốc Hùng
THỨ TƯ LỄ TRO (13/2/2013)
Đọc sách thánh
-       Bài đọc I: John Baptist Nguyễn Đình Minh
-       Bài đọc II: Anna Nguyễn Lê Ngọc Ngân
Lời nguyện: Macta Ngô Thị Nga
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY (17/2/2013)
Đọc sách thánh
-       Bài đọc I: Maria Đinh Kim Thoa
-       Bài đọc II: Nguyễn Trần Duy Linh
Lời nguyện: Anna Nguyễn Lê Ngọc Nga
CHÚA NHẬT II MÙA CHAY (24/2/2013)
Đọc sách thánh
-       Bài đọc I: Phanxicô Nguyễn Đình Ngôn
-       Bài đọc II: Maria Nguyễn Hương Thoa
Lời nguyện: Giuse Nguyễn Quốc Hùng
CHÚA NHẬT III MÙA CHAY (3/3/2013): Các Em Lớp Giáo Lý đảm trách.

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha Beneđictô XVI, trong buổi tiếp kiến chung vào ngày 06/02/2013 tại Roma.

Con người là loài duy nhất được nhào nặn bằng đất độc nhất của Thiên Chúa

Anh chị em thân mến, Kinh Tin Kính bắt đầu bằng lời định tính Thiên Chúa như là “Thiên Chúa Cha toàn năng”, điều chúng ta đã suy niệm hôm thứ tư tuần trước, và sau đó là “Đấng tạo thành trời và đất”, lấy lại sự khẳng định khởi đầu của Kinh Thánh. Trong câu đầu tiên của Kinh Thánh : “Từ nguyên thủy Thiên Chúa đã tạo dựng trời và đất” (St 1,1): Ngài là Thiên Chúa cội nguồn của tất cả mọi sự và trong vẻ đẹp của tạo vật tự biểu lộ sự toàn năng của Chúa Cha yêu thương.

Thiên Chúa được thể hiện như người Cha trong việc sáng tạo, như là nguồn gốc của sự sống, Ngài biểu lộ sự toàn năng của Ngài trong việc tạo dựng. Những hình ảnh được Kinh Thánh sử dụng liên quan đến nhiều gợi ý (x. Is 40,12; 45,18; 48,13; Sal 104,2.5; 135,7;Pr 8, 27-29; Gb 38–39). Ngài như người cha nhân lành và quyền năng, chăm sóc những gì Ngài đã tạo nên với tình yêu và lòng trung tín không bao giờ phai nhạt, được các Thánh vịnh lặp lại nhiều lần (x. Tv 57,11; 108,5; 36,6). Như vậy, việc tạo dựng trở thành nơi để hiểu biết và thừa nhận sự toàn năng và tốt lành của Thiên Chúa, trở thành lời kêu gọi lòng tin của mỗi người Kitô hữu, để chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa. Tác giả thư gởi Do thái viết : “Nhờ đức tin, chúng ta hiểu rằng vũ trụ đã được hình thành bởi Lời của Thiên Chúa; vì thế những cái hữu hình là do những cái vô hình mà có”. (Dt 11,3). Đức tin bao hàm việc biết nhận ra cái vô hình bằng cách nhận ra dấu vết của nó trong thế giới hữu hình. Người tín hữu có thể đọc cuốn sách tuyệt vời của thiên nhiên và hiểu được ngôn ngữ của nó (x. Tv 19,2-5); Nhưng mạc khải là cần thiết, nó khơi dậy đức tin, để con người có thể đạt đến sự nhận biết đầy đủ thực tại của Thiên Chúa như là Đấng Tạo Hóa và là Cha. Trong Kinh Thánh, dưới ánh sáng đức tin, sự khôn ngoan của con người có thể tìm thấy chìa khóa của việc giải thích để hiểu biết thế giới. Đặc biệt chương đầu sách Sáng Thế chiếm một vị trí quan trọng, với sự trình bày trang trọng việc sáng tạo của Thiên Chúa thực hiện trong bảy ngày : Thiên Chúa hoàn tất việc tạo dựng trong sáu ngày, ngày thứ bảy, ngày hưu lễ, chấm dứt mọi hoạt động Ngài nghỉ ngơi. Ngày của sự tự do dành cho tất cả mọi người, ngày của sự hiệp thông với Thiên Chúa. Và như vậy, với hình ảnh này, sách Sáng thế cho chúng ta biết rằng ý nghĩ đầu tiên của Thiên Chúa là tìm kiếm tình yêu để đáp trả tình yêu của Ngài. Ý nghĩ thứ hai là tạo ra một thế giới vật chất nơi đặt để tình yêu này, để những tạo vật này đáp trả tình yêu trong tự do. Cấu trúc đó làm cho bản văn được nhấn mạnh bởi những lần lặp lại đầy ý nghĩa. Ví dụ câu “Thiên Chúa thấy mọi điều tốt đẹp” được lặp lại sáu lần (St 1, 4.10.12.18.21.25), lần thứ bảy, sau khi tạo dựng con người, để kết thúc : “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là tốt đẹp” (St 1,31). Tất cả những gì Thiên Chúa tạo nên đều tốt đẹp, thấm đẫm khôn ngoan và tình yêu. Hành động tạo dựng của Thiên Chúa đem lại trật tự, đưa vào sự hài hòa và trao ban sự tốt đẹp. Tiếp theo trong tường thuật sách Sáng thế chỉ ra rằng Thiên Chúa sáng tạo bằng Lời của Người : ta đọc thấy trong bản văn 10 lần từ “Thiên Chúa phán” (x. St 1, 3.6.9.11.14.20.24.26.28.29). Lời hay Logos của Thiên Chúa là nguồn gốc của thực tại thế giới : “Thiên Chúa phán”, như thế nhấn mạnh đến quyền năng hữu hiệu của Lời Chúa. Như tác giả thánh vịnh hát : “Một lời Chúa phán làm ra các tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú….. Vì Người đã phán, và muôn loài xuất hiện, Người ra lệnh truyền, tất cả được dựng nên” (Tv 33,6.9). Sự sống nảy sinh, thế giới hiện hữu, vì tất cả đều vâng theo Lời của Thiên Chúa.

Nhưng hôm nay câu hỏi của chúng ta là : trong thời đại khoa học kỹ thuật, nói về việc tạo dựng còn có ý nghĩa không? Chúng ta phải hiểu các trình thuật của sách Sáng Thế như thế nào ? Kinh Thánh không muốn là một thủ bản của các khoa học tự nhiên; trái lại Kinh Thánh muốn giúp ta hiểu chân lý đích thực và chiều sâu của các sự vật. Chân lý nền tảng mà các trình thuật Sáng Thế trình bày cho chúng ta biết rằng thế giới không phải là tập hợp các sức mạnh đối nghịch nhau, nhưng nó có nguồn gốc và sự ổn định của nó trong Lời [Logos], trong thượng trí bất diệt của Thiên Chúa, hằng tiếp tục nâng đỡ vũ trụ. Có một kế hoạch về thế giới bắt nguồn từ Thượng trí này, từ Thánh Thần Sáng Tạo. Tin rằng nền tảng của tất cả mọi sự có được, soi chiếu từng khía cạnh của cuộc sống, ban cho chúng ta sự can đảm để đương đầu với mạo hiểm của cuộc sống với lòng tín thác và hy vọng. Bởi thế, Kinh Thánh nói với chúng ta rằng nguồn gốc của hữu thể, của thế giới, nguồn gốc của chúng ta không phải phi lý hoặc cần thiết, nhưng là lý trí, tình yêu và tự do. Từ lựa chọn này : ưu tiên cho sự phi lý hay cho sự cần thiết, ưu tiên cho lý trí, cho tự do hay cho tình yêu. Chúng ta tin vào điểm sau cùng này.

Nhưng tôi muốn nói về chóp đỉnh của toàn bộ việc tạo dựng : người nam và người nữ, là con người duy nhất “có khả năng nhận biết và yêu thương Đấng Tạo Hóa của mình (x. Gaudium et spes, số 12). Tác giả Thánh vịnh nhìn lên các tầng trời tự hỏi “ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài, thì Con người là chi mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm?” (Tv 8, 4-5). Con người được tạo dựng với tình yêu từ Thiên Chúa là sinh vật nhỏ bé trước vũ trụ bao la; những khi nhìn sự hấp dẫn trải rộng của bầu trời mênh mông, chúng ta cũng cảm nhận được sự giới hạn của mình. Con người được sống do nghịch lý này : sự nhỏ bé và chóng qua của chúng ta sống cùng với sự cao cả của tình yêu Thiên Chúa đã muốn vì nó.

Các trình thuật của việc tạo dựng trong sách Sáng thế dẫn chúng ta vào trong lãnh vực mầu nhiệm này, giúp chúng ta nhận ra chương trình của Thiên Chúa đối với con người. Trước hết khẳng định rằng Thiên Chúa tạo nên con người bằng bụi đất (x. St 2,7). Nghĩa là chúng ta không phải là Thiên Chúa, chúng ta không tự làm ra mình, chúng ta là đất; nhưng điều này cũng có nghĩa là chúng ta đến từ đất tốt, do công trình của Đấng Tạo Hóa tốt lành. Thêm vào đó còn có một thực tại căn bản khác là : tất cả mọi người là bụi đất, vượt qua mọi cách biệt đến từ văn hóa, lịch sử, vượt qua mọi khác biệt về xã hội; chúng ta là loài duy nhất được nhào nặn bằng đất độc nhất của Thiên Chúa. Thứ đến là : Con người có nguồn gốc bởi vì Thiên Chúa thổi hơi sự sống vào trong thân xác được nặn từ đất (x. St 2,7). Con người được làm ra theo hình ảnh giống như Thiên Chúa (St 1,26-27). Như vậy tất cả chúng ta mang lấy hơi sự sống của Thiên Chúa và mỗi sự sống con người đều nằm dưới sự bảo vệ của Thiên Chúa. Đây là lý do sâu xa nhất cho sự bất khả xâm phạm phẩm giá con người, chống lại mọi cám dỗ đánh giá con người theo tiêu chuẩn thực dụng và quyền lực. Con người là hình ảnh giống Thiên Chúa, muốn nói rằng con người không đóng khung trong chính mình nhưng có một điểm quy chiếu cốt yếu nơi Thiên Chúa.

Trong những chương đầu của sách Sáng Thế, chúng ta tìm thấy hai hình ảnh đầy ý nghĩa : khu vườn với cây nhận biết điều tốt xấu và con rắn (x. St 2,15-17; 3,1-5). Khu vườn nói cho chúng ta biết thực tại mà Thiên Chúa đã đặt để con người không phải là một khu rừng hoang dã, nhưng là một nơi được bảo vệ, nuôi dưỡng và giữ gìn; và con người phải nhận ra rằng thế giới không là tài sản để cướp phá và khai thác, nhưng nó như quà tặng của Tạo Hóa, dấu chỉ của ý muốn cứu độ của Thiên Chúa, quà tặng phải vun trồng và gìn giữ, làm tăng trưởng và phát triển trong sự kính trọng, trong sự hòa hợp, theo nhịp điệu và hợp lý, theo chương trình cứu độ của Thiên Chúa (x. Gen 2,8-15). Tiếp đến, con rắn là hình ảnh bắt nguồn từ những việc thờ phượng sự phong phú của những người Đông phương, nó quyến rũ dân Israel và tạo nên sự cám dỗ thường kỳ cho việc từ bỏ giao ước nhiệm mầu với Thiên Chúa. Dưới ánh sáng của điều này, Kinh Thánh trình bày sự cám dỗ mà Ađam và Evà phải chịu như là điểm cốt lõi của cám dỗ và tội lỗi. Hình ảnh con rắn muốn nói lên điều gì? Nó không phủ nhận Thiên Chúa, nhưng nó chèn vào một câu hỏi quỷ quyệt : “Có thật Thiên Chúa bảo : “Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?”” (St 3,1). Theo cách này, con rắn đã gợi lên sự nghi ngờ đối với giao ước với Thiên Chúa, như một sợi xích trói buộc, tước đi sự tự do và những điều tốt đẹp quý giá của cuộc sống. Cám dỗ trở nên việc tự xây dựng một thế giới riêng biệt để sống, không chấp nhận các giới hạn của thụ tạo, các giới hạn của sự lành và sự dữ, của luân lý; sự tùy thuộc đối với tình yêu của Thiên Chúa Đấng Tạo Hóa được xem như một gánh nặng cần phải giải thoát. Đây luôn là điểm chính yếu của sự cám dỗ. Một khi mối tương quan với Thiên Chúa bị bóp méo, với sự dối trá, tự đặt mình vào chỗ của Ngài, thì tất cả các mối tương quan khác bị thay đổi. Như thế người kia trở thành địch thủ và là mối đe dọa : Adam sau khi không cưỡng lại được cám dỗ, tức thì ông đổ tội cho E-va (x. St 3,12); hai người trốn khỏi cái nhìn từ Thiên Chúa, Đấng mà họ nói chuyện trong tình bằng hữu. (x.St 3,8-10). Thế giới không còn là khu vườn để sống hòa hợp nữa, nhưng là nơi để khai thác và là nơi ẩn giấu nhiều cạm bẫy (x. St 3,14-19). Sự đố kỵ và căm ghét xâm nhập vào trong trái tim của con người. Điển hình như Cain đã giết chết em mình là Abel (x. St 4, 3-9). Thực vậy, khi chống lại Đấng Tạo Hóa của mình, con người chống lại chính mình, vì thế chối bỏ nguồn gốc và sự thật của mình. Sự dữ đã xâm nhập vào thế giới, với chuỗi nặng nề của đau khổ và cái chết. Và vì vậy những gì Thiên Chúa đã tạo nên thì tốt đẹp, thậm chí là rất tốt, nhưng sau quyết định tự do này của con người bằng dối trá chống lại sự thật, sự dữ đã xâm nhập vào thế giới.

Từ những trình thuật của việc tạo dựng tôi muốn nhấn mạnh giáo huấn cuối cùng là : Tội lỗi sinh ra tội lỗi và tất cả tội lỗi của lịch sử đều được nối kết với nhau. Khía cạnh này thúc đẩy chúng ta nói đến điều được gọi là “tội nguyên tổ”. Ý nghĩa của thực tại này có khó hiểu không? Tôi muốn đưa ra vài yếu tố. Trước hết, chúng ta phải biết rằng không người nào tự đóng khung trong chính mình, không người nào có thể chỉ sống cho mình và vì mình; Chúng ta đón nhận cuộc sống từ người khác và không chỉ ở giây phút được sinh ra, nhưng là mỗi ngày. Con người là tương quan : tôi chỉ là chính mình ở trong anh và qua anh, trong tương quan tình yêu đối với “anh” của Thiên Chúa và “anh” của những người khác. Tội lỗi làm xáo trộn và phá hủy mối tương quan với Thiên Chúa, đây là bản chất của nó: phá hủy mối tương quan với Thiên Chúa, tương quan căn bản, đặt mình vào vị trí của Thiên Chúa. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo dạy rằng tội đầu tiên của con người là “đã chọn chính mình chống lại Thiên Chúa, chống lại những đòi hỏi của tình trạng thụ tạo và do đó bất chấp cả điều tốt lành cho bản thân” (GLHTCG số 398). Tương quan nền tảng bị xáo trộn, bị thiệt hại cũng như phá hủy những cực khác của mối liên hệ, tội lỗi phá đổ các tương quan bởi đó nó phá đổ tất cả, bởi vì chúng ta có tương quan. Giờ đây cấu trúc của mối tương quan nhân loại bị rối loạn ngay từ đầu, mỗi người đi vào trong thế gian bị ghi dấu bởi sự tráo trộn các tương quan này, bước vào trong thế giới xáo trộn do tội lỗi, nó bị ghi dấu mang tính cá nhân. Tội lỗi bắt đầu gặm nhấm và làm tổn thương bản tính nhân loại (x. GLHTCG số 404-406). Và một mình con người không thể thoát khỏi tình trạng này, không thể tự cứu mình; chỉ có Đấng Tạo Hóa mới có thể khôi phục lại những tương quan đúng đắn. Chỉ khi Đấng mà chúng ta đã lìa xa đến với chúng ta và giơ tay ra với tình yêu, thì các tương quan đúng đắn mới có thể được tái lập. Điều này xảy ra nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng hoàn tất cách đúng đắn đi ngược lại con đường của Ađam, như thánh thi trong chương thứ hai thư Thánh Phaolô gởi cho Philipphê (2,5-11) đã mô tả : Trong khi Ađam không thừa nhận mình là thụ tạo và muốn chiếm chỗ của Thiên Chúa, thì Đức Giêsu Con Thiên Chúa, là người Con hoàn hảo trong mối liên hệ với Chúa Cha, đã tự hạ trở thành tôi tớ đi theo con đường tình yêu, hạ mình cho tới chết trên thập giá để tái lập trật tự các tương quan với Thiên Chúa. Như vậy Thập giá Chúa Kitô trở thành cây mới của sự sống.

Anh chị em thân mến.

Sống đức tin là thừa nhận sự lớn lao của Thiên Chúa, chấp nhận sự nhỏ bé, thân phận thụ tạo của chúng ta để cho Thiên Chúa lấp đầy tình yêu của Người và nhờ đó làm tăng thêm sự lớn lao của chúng ta. Sự dữ chất đầy buồn phiền và đau khổ, là một mầu nhiệm được soi chiếu từ ánh sáng đức tin, mang lại cho chúng ta sự chắc chắn rằng chúng ta có thể được giải thoát khỏi nó : chắc chắn đó là điều tốt cho con người.

Tác giả bài viết: Giuse Võ Tá Hoàng chuyển ngữ

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2013

CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN C (3/2/2013)


BẢN TIN MỤC VỤ
CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN C (3/2/2013)
SAINT JOSEPH CATHOLIC CHURCH – NHÀ THỜ THÁNH GIUSE
1375 S. MICKLEY AVENUE, INDIANAPOLIS, IN 46241 – PHONE: 317-244-9002 - FAX: 244-0278
Điện thoại dành riêng cho VN: 813-451-4743; Email: mduongindy@yahoo.com
GHI DANH VÀO GIÁO XỨ
Theo quy định của Giáo phận, người công giáo cần ghi danh gia nhập Giáo xứ nơi thường trú và tham dự Phụng Vụ để tiện việc nhận các Bí tích và các chương trình giáo dục Công giáo. Xin ghi danh càng sớm càng tốt.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 
Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA
THÁNG 2 NĂM 2013
 
-      Ý chung: Cầu cho các gia đình di dân, đặc biệt là các bà mẹ, nhận được sự trợ giúp và đồng hành trong những khó khăn của họ.
-      Ý truyền giáo: Cầu cho các dân tộc đang gặp thử thách về chiến tranh và xung đột tìm ra giải pháp để xây dựng một tương lai hoà bình.
QUAN THẦY CỘNG ĐOÀN

 
VĂN PHÒNG GIÁO XỨ
 
-       Chánh xứ: Rev. Robert T. Hausladen
-       Quản nhiệm: Rev. Giuse Dương Quang Minh
 
BAN ĐẠI DIỆN
 
-       Chủ tịch: Eric Hoàng (317-850-2988)
-       Nội vụ: Hùng Nguyễn (317-874-6216)
-       Ngoại vụ: Lãm Nguyễn (317-503-2129)
-       Thư ký: Thọ Lê (317-219-9562)
 
CÁC ỦY BAN
 
1.      BAN PHỤNG VỤ
 
-       Doanh Vũ (317-219-5470)
-       Tâm Đỗ (951-801-0485)
 
2.      BAN GIÁO LÝ
 
-       Nam Nguyễn (682-551-8072)
-       Sr. Anna Nhung Ho (909-576-1868)
 
3.      BAN TÀI CHÁNH
 
-       Việt Anh Nguyễn (317-926-1446)
-       Hương Chu
 
4.      BAN BÁC ÁI XÃ HỘI
 
-       Nga Ngô (317-298-8150)
 
5.      BAN ẨM THỰC
 
-       Diễm Hoàng (720-236-3136)
-       Thoa Đinh
 
6.      BAN THÁNH NHẠC/VĂN NGHỆ
 
-       Thông Đức Nguyễn (317-702-2126)
-       Vinh Nguyễn (317-414-4429)
 
7.      BAN KHÁNH TIẾT
-       Quỳnh Lê (626-560-3146)
CHƯƠNG TRÌNH MỤC VỤ THƯỜNG NIÊN
V˜
 
1.      THÁNH LỄ TIẾNG VIỆT NGÀY CHÚA NHẬT: 1:00 Pm và 6:00 Pm
2.      THÁNH LỄ NGÀY THƯỜNG: 5:45 Pm.
(Lễ tiếng Anh)
3.      GIẢI TỘI: 12:30 Pm. (trước giờ thánh lễ mỗi Chúa nhật). Các ngày khác, xin liên lạc sắp xếp thời giờ.
4.      GIÁO LÝ HÔN NHÂN: Mỗi tháng 2 lần vào Chúa nhật.
5.      RỬA TỘI TRẺ EM: 1:00 Pm. Trong thánh lễ Chúa nhật thứ II và III mỗi tháng.
RỬA TỘI NGƯỜI LỚN: Trong lễ Vọng Phục Sinh hoặc trong thánh lễ Chúa nhật.
6.      HÔN PHỐI & DỰ TÒNG: Cần gặp Cha Quản nhiệm ít nhất 6 tháng trước ngày cưới, và không bị mắc ngăn trở.
7.      TANG LỄ: Những ai thuộc giáo dân nhà thờ Thánh Giuse, gọi Cha Quản nhiệm hoặc Chủ tịch cộng đoàn để xếp chương trình tang lễ và thông báo cho cộng đoàn.
8.      XỨC DẦU THÁNH: Cần linh mục cho bệnh nhân, gọi bất cứ giờ nào (813-451-4743)
9.      ĐEM MÌNH THÁNH CHÚA CHO NGƯỜI ĐAU YẾU: Vào sáng thứ Năm hàng tuần.
 
LỊCH PHỤNG VỤ TRONG TUẦN
V˜
CHƯƠNG TRÌNH TẾT NGUYÊN ĐÁN (10/2/2013)
-       1:00 PM – 1:20 PM: Chầu Tạ Ơn Cuối Năm
-       1:30 PM – 2:30 PM: Thánh Lễ Tân Niên, Hái Lộc Lời Chúa
-       3:00 PM – 6:00 PM: Văn Nghệ và Tiệc Mừng
BÁO CÁO TÀI CHÍNH THÁNG 1/2013
Tiền thu được từ tiền giỏ nhà thờ (1/2013)
-          Ngày 1/1/2013:     $355.00
-          Ngày 6/1/2013:     $531.00
-          Ngày 13/1/2013:   $451.00
-          Ngày 20/1/2013:   $475.00
-          Ngày 27/1/2013:   $446.00
Tổng thu tháng 1:                    $2,258.00
Các khoản chi trong tháng 1/2013
-          Oct-Nov Wages and Oct-Dec Rectory Expense (Tiền lương tháng 10 và tháng 11 và các chi phí trong nhà xứ từ tháng 10 đến 12: $2,403.00
-          Traditional Vestments (8 bộ áo gấm cho các em nhỏ): $140.00
-          Hymn Song Books for Choir (Sách hát cho ca đoàn): $90.00
Tổng chi tháng1:                     $2,633.00
BALANCES (Tính tới ngày 28/1/2013): $20,868.50
ĐỌC SÁCH THÁNH VÀ LỜI NGUYỆN
TẾT NGUYÊN ĐÁN (10/2/2013):
Đọc sách thánh
-       Bài đọc I: John Baptist Nguyễn Đình Minh
-       Bài đọc II: Maria Đinh Kim Thoa
Lời nguyện: Giuse Nguyễn Quốc Hùng
THỨ TƯ LỄ TRO (13/2/2013)
Đọc sách thánh
-       Bài đọc I: John Baptist Nguyễn Đình Minh
-       Bài đọc II: Anna Nguyễn Lê Ngọc Ngân
Lời nguyện: Macta Ngô Thị Nga
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY (17/2/2013)
Đọc sách thánh
-       Bài đọc I: Maria Đinh Kim Thoa
-       Bài đọc II: Maria Nguyễn Trần Duy Linh
Lời nguyện: Anna Nguyễn Lê Ngọc Nga
CHÚA NHẬT II MÙA CHAY (24/2/2013)
Đọc sách thánh
-       Bài đọc I: Phanxicô Nguyễn Đình Ngôn
-       Bài đọc II: Maria Nguyễn Hương Thoa
Lời nguyện: Giuse Nguyễn Quốc Hùng
CHÚA NHẬT III MÙA CHAY (3/3/2013): Các Em Lớp Giáo Lý đảm trách.

THẾ GIỚI SẼ  HẾT NGHÈO ĐÓI

 

Mẹ Têrêxa thành Cacutta, người được giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 1979 đã kể lại câu chuyện sau đây: ngày nọ, có một thiếu phụ và 8 đứa con dại đến gõ cửa xin gạo. Từ nhiều ngày qua, bà và các con của bà không có được một hạt cơm trong bao tử. Mẹ Têrêxa đã trao cho bà một túi gạo. Người đàn bà nhận gạo, cám ơn và chia ra làm hai phần... Ngạc nhiên về cử chỉ ấy, Mẹ Têrêxa hỏi bà tại sao lại phân làm hai. Người đàn bà nghèo khổ ấy trả lời: "Tôi dành lại một phần 1/2 cho gia đình người Hồi Giáo bên cạnh nhà, vì đã mấy ngày qua họ cũng không có gì để ăn".

Mẹ Têrêxa kết luận như sau: Thế giới này sẽ hết nghèo đói nếu người ta biết chia sẻ cho nhau. Càng giàu có, chúng ta càng muốn tích lũy thêm, nhưng càng nghèo khổ, chúng ta càng dễ chia sẻ hơn.

Nghèo không là một điều xấu, giàu cũng không là một cái tội. Xấu hay không, tội hay không đó là lòng tham lam và ích kỷ của con người mà thôi. Giá trị và danh dự của con người tùy thuộc ở lòng quảng đại của mình.

 

DANH HIỆU CỦA ÁNH SÁNG

 

Không những ở Việt Nam, nhưng trên toàn thế giới, nhiều thánh nữ mang tên thánh bổn mạng Lucia, như nữ tu Lucia, một trong ba trẻ đã được thấy Đức Mẹ hiện ra ở Fatima.

Những người thiếu nữ mang tên Lucia này không khỏi thất vọng khi tìm hiểu về đời sống và sự nghiệp của thánh nhân. Vì những sách cũ đã viết tiểu sử của các thánh nhân đã ghi lại nhiều câu chuyện về thánh Lucia, để rồi các tác giả viết về đời sống của các thánh nhân thời đại chúng ta lại phê bình những câu chuyện ấy không có tính cách lịch sử. Chúng ta chỉ có thể tóm lại những chứng tích lịch sử để viết về cuộc đời, nhất là cái chết vì niềm tin của thánh Lucia như sau:

Một chàng thanh niên không Công Giáo thất vọng vì không được Lucia đáp trả lại tình yêu của mình đã tố cáo với nhà cầm quyền Lucia là người Công Giáo. Và nàng đã bị xử tử vào năm 304 tại thành Syracuse vùng Sicilia, mạn Nam nước Italia. Di tích lịch sử thứ hai là tên Lucia được ghi trong danh sách những thánh tử đạo trong lời nguyện thánh lễ Roma, nay là lời nguyện Thánh Thể thứ nhất trong phụng vụ mới.

Những di tích bên lề cũng nên nói đến là nhiều địa danh, nhiều làng mạc, thành phố bên Âu Châu mang tên nàng, cũng như có những bằng chứng lịch sử về sự tôn kính nàng từ trước thế kỷ thứ 5.

Chữ "Lucia" có nghĩa là ánh sáng. Và gương can đảm chết vì lòng tin của nàng vẫn tiếp tục chiếu sáng trong tâm hồn những người đang bị thử thách và đau khổ vì lòng tin, cũng như làm rạng rỡ những khuôn mặt của những thiếu nữ mang tên thánh bổn mạng Lucia.

Muốn hiểu sự can đảm của thánh Lucia Giáo Hội mừng kính với tước hiệu đồng trinh, tử đạo, chúng ta có thể tưởng tượng một thiếu nữ Công Giáo sống giữa những người không Công Giáo vào thời kỳ tôn giáo này bị bách hại. Để sống trọn niềm tin Công Giáo, nàng cũng gặp nhiều khó khăn như đại đa số những tín hữu Kitô trong thời đại chúng ta phải sống chung với những người vô thần, không tin tưởng.

Lạ lùng hơn là niềm tin của Lucia. Nàng tin vào một người sáng lập tôn giáo với thân thế và sự nghiệp không mấy được rõ ràng ở một nước thuộc địa xa xôi với thủ đô Jerusalem bị quân đội Roma phá hủy cách đó hơn 200 năm. Trước khi truyền đạo, ông này làm nghề thợ mộc và sau một thời giảng đạo ngắn ngủi, ông bị quân lính Roma đóng đinh vào thập tự, một hình phạt dành cho dân thuộc địa phạm những trọng tội sát nhân hay nổi loạn. Nay Lucia tin tưởng với tất cả tâm hồn là ông ấy đã Phục Sinh, như một dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa đã chấp nhận những gì ông truuyền dạy và đã làm.

Để biểu lộ lòng tin của mình, Lucia đã thề hứa giữ sự trinh khiết, không lập gia đình.

Lucia lập lời hứa đó vì nàng biết đến gương anh dũng của những người chết vì đạo trong các hí trường tại Roma hay những nơi khác và nhất là để giữ lòng trung tín với ông Giêsu làng Nagiareth, đã bị chết treo trên thập giá, nhưng đối với niềm tin của nàng là Đấng Cứu Thế, Con Một Thiên Chúa.

 

CÁNH TAY CỦA NGƯỜI GANH TỊ VÀ THAM LAM

 

Câu chuyện có tính cách ngụ ngôn sau đây đã xảy ra tại thế kỷ thứ 16 tại Ấn Độ. Trong triều đình có hai viên sĩ quan nổi tiếng vì những đam mê của mình. Một người thì ganh tị, một người thì tham lam.

Để chữa trị những tính xấu ấy, vua cho triệu tập hai viên sĩ quan vào giữa triều đình. Vua thông báo sẽ tưởng thưởng hai viên sĩ quan vì những phục vụ của họ trong thời gian qua. Họ có thể xin gì được nấy, tuy nhiên, người mở miệng xin đầu tiên chỉ được những gì mình muốn, còn người thứ hai sẽ được gấp đôi.

Cả hai viên sĩ quan đều đứng thinh lặng trước mặt mọi người. Người tham lam nghĩ trong lòng: nếu tôi nói trước, tôi sẽ được ít hơn người kia. Còn người ganh tị thì lý luận: thà tôi không được gì còn hơn là mở miệng nói trước để tên kia được gấp đôi... Cứ thế, cả hai đều suy nghĩ trong lòng và không ai muốn lên tiếng trước. Cuối cùng, vua mới quyết định yêu cầu người ganh tị nói trước. Người này lại tiếp tục suy nghĩ: thà không được gì còn hơn để tên tham lam kia được gấp đôi. Nghĩ như thế, hắn mới dõng dạc tuyên bố: "Tôi xin được chặt đứt một cánh tay...". Hắn cảm thấy sung sướng với ý nghĩ là người tham lam sẽ bị chặt hai cánh tay.

Lắm khi chúng ta không hài lòng về cái mình có và chúng ta cũng không sung sướng khi người khác gặp nhiều may mắn hơn chúng ta. Không bằng lòng về chính mình, chúng ta không được hạnh phúc, mà bất mãn về người khác, chúng ta lại càng đau khổ hơn.

 

 

HƠI ẤM CỦA TÌNH NGƯỜI

 

Một vị linh đạo Ấn Giáo và các môn sinh ngồi quây quần bên một bếp lửa hồng. Sức nóng của than hồng và hơi nóng của từng người làm cho căn phòng ấm hẳn ra... Nhưng bỗng chốc, vị linh đạo già run lập cập, môi ông bập bẹ không nói ra lời. Các môn sinh lo lắng cho sức khỏe của thầy: "Thưa thầy, chắc thầy yếu trong người, chúng con xin phép được cho thêm củi vào lò sưởi".

Trong cơn thổn thức, vị linh đạo già cố gắng nói từng tiếng: "Lửa và sức nóng trong căn phòng này quá đủ cho ta... Ta cảm thấy lạnh là bởi vì bên ngoài có một người hành khất đang run lập cập".

Quả thật, đúng như lời của vị thầy, các môn sinh đã mở cửa nhìn ra ngoài, và họ đã tìm thấy một người hành khất đang rét run vì đói và lạnh... Họ đưa người đó vào trong căn phòng, săn sóc cho anh và từ giây phút ấy, vị linh đạo già cũng trút bớt được nỗi rét run của mình.

Câu chuyện được trích từ kho tàng khôn ngoan của người Ấn Độ trên đây có lẽ gợi lại cho chúng ta lời của thánh Giacôbê tông đồ: "Đức Tin không có việc làm là một Đức Tin chết". Vị linh đạo già trên đây đã cảm thấy rét run là bởi vì sự ấm áp của thầy trò đang có với nhau chưa được chia sẻ cho người khác. Ông chỉ cảm thấy thật sự ấm lòng, khi hơi ấm của sự quây quần ấy được san sẻ cho người khác.

Vị linh đạo này là hình ảnh của đời sống Đức Tin của chúng ta. Dù có sốt sắng bao nhiêu trong việc cầu nguyện, trong các nghi thức phụng tự, nếu tâm hồn chúng ta không được nuôi dưỡng bằng lòng mến đối với tha nhân, thì hơi ấm của lòng đạo đức nơi chúng ta chỉ là một thứ hơi ấm giả hiệu... Một Đức Tin nhiệt thành, một Đức Tin có hơi ấm thật sự cần phải được nuôi dướng bằng lòn mến.

 

 

 

ĐÔI VAI CỦA NGƯỜI CHA

 

Tháng 11 năm 1958, ngay chính ngày đăng quang, khi nói chuyện với khách hành hương, Đức cố Giáo Hoàng Gioan 23 đã kể lại một giai thoại trong cuộc đời của ngài như sau:

"Khi tôi lên 7, một hôm cha tôi đưa tôi đến một làng bên cạnh, nơi đang tổ chức một buổi lễ của Công Giáo tiến hành trong giáo phận. Phải đi bộ nhiều cây số, tôi cảm thấy mệt mỏi. Cha tôi đã phải đặt tôi trên vai của người. Đến nơi, tôi cảm thấy thất vọng, bởi vì dân chúng qúa đông, mà tôi thì bé nhỏ. Mất hút trong chợ người, tôi không thể nhìn đoàn người đang diễn hành... Thế là một lần nữa, cha tôi lại bồng tôi trên vai của người. Từ trên cao, tôi có thể xem thấy tất cả mọi sự". 

Và vị Giáo Hoàng được mệnh danh "nhân lành" đã kết luận như sau: "70 năm qua, nhưng tôi vẫn còn ghi nhớ trong tâm trí tôi cử chỉ của cha tôi. Nó đã trở thành một biểu trưng kỳ diệu. Ngày nay, mỗi khi mệt mỏi, mỗi khi tôi không còn thấy gì nữa, tôi nài xin vị Cha trên trời nâng tôi lên đôi cánh của Người". Chỉ từ trên đỉnh cao, chúng ta mới có thể thấy rõ mọi sự. Chính Chúa là đỉnh cao của chúng ta. Nơi Người, chúng ta sẽ thấy được ý nghĩa của cuộc sống... Những lúc chán sống, những lúc hầu như không còn thấy gì nữa, chúng ta hãy chạy đến với Người.